Nghiên Cứu Phương Pháp Tối Ưu Bù Co Ngắn Cột BTCT Cho Nhà Siêu Cao Tầng Ở Việt Nam

Luận án tiến sĩ kỹ thuật nghiên cứu phương pháp tối ưu bù co ngắn cột BTCT cho nhà siêu cao tầng tại Việt Nam, ứng dụng hiệu quả trong xây dựng.

Chuyên ngành

Xây dựng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án
151
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tối ưu hóa cột BTCT

Tối ưu hóa cột BTCT là quá trình cải thiện hiệu suất và độ bền của cột bê tông cốt thép trong các công trình siêu cao tầng. Phương pháp này tập trung vào việc giảm thiểu co ngắn cột, một hiện tượng phổ biến trong các công trình cao tầng do tải trọng lớn và biến dạng từ biến của bê tông. Nhà siêu cao tầng tại Việt Nam đòi hỏi các giải pháp kỹ thuật tiên tiến để đảm bảo an toàn và ổn định kết cấu. Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng việc sử dụng phương pháp tối ưu như bù co ngắn có thể giảm thiểu đáng kể các vấn đề liên quan đến biến dạng cột.

1.1. Khái niệm co ngắn cột

Co ngắn cột là hiện tượng cột bê tông cốt thép bị giảm chiều cao do tải trọng và biến dạng từ biến. Trong các công trình cao tầng, hiện tượng này gây ra vênh co, ảnh hưởng đến kết cấu và các bộ phận phi kết cấu như tường, vách kính. Các nghiên cứu chỉ ra rằng co ngắn cột phụ thuộc vào nhiều yếu tố như vật liệu, độ ẩm, và tiến độ thi công. Việc dự báo và kiểm soát co ngắn cột là yếu tố quan trọng trong thiết kế và thi công các nhà siêu cao tầng.

1.2. Phương pháp bù co ngắn

Bù co ngắn là giải pháp kỹ thuật nhằm khắc phục hiện tượng co ngắn cột bằng cách thi công cột cao hơn chiều cao thiết kế. Phương pháp này giúp giảm thiểu vênh co và đảm bảo ổn định kết cấu. Các nghiên cứu chỉ ra rằng bù co ngắn có thể được thực hiện thông qua các phương pháp như bù co gộp nhóm hoặc bù co di chuyển tối ưu. Việc áp dụng các phương pháp tối ưu này giúp cải thiện hiệu quả thi công và giảm chi phí trong các công trình cao tầng.

II. Kỹ thuật xây dựng và thiết kế kiến trúc

Kỹ thuật xây dựngthiết kế kiến trúc đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an toàn và ổn định của các công trình cao tầng. Các phương pháp như sử dụng hệ dầm chìa hoặc dầm congson giúp phân phối ứng suất đồng đều, giảm thiểu vênh co. Thiết kế kiến trúc hợp lý cũng góp phần giảm thiểu các vấn đề liên quan đến biến dạng cột. Các nghiên cứu chỉ ra rằng việc kết hợp kỹ thuật xây dựng tiên tiến và thiết kế kiến trúc tối ưu có thể nâng cao hiệu quả và độ bền của các nhà siêu cao tầng.

2.1. Ảnh hưởng của co ngắn đến kết cấu

Co ngắn cột ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết cấu chịu lực của các công trình cao tầng. Hiện tượng này gây ra vênh co, làm thay đổi vị trí dầm sàn và gây nứt các bộ phận phi kết cấu. Các nghiên cứu chỉ ra rằng việc kiểm soát co ngắn cột thông qua các phương pháp tối ưu như bù co ngắn có thể giảm thiểu đáng kể các vấn đề này. An toàn công trình là yếu tố quan trọng cần được đảm bảo trong quá trình thiết kế và thi công.

2.2. Giải pháp giảm thiểu vênh co

Các giải pháp giảm thiểu vênh co bao gồm việc sử dụng hệ dầm chìa, tăng độ cứng dọc trục cho các cấu kiện, và áp dụng các phương pháp bù co ngắn. Các nghiên cứu chỉ ra rằng việc kết hợp các giải pháp này có thể giảm thiểu đáng kể vênh co và đảm bảo ổn định kết cấu. Quy trình thi công hợp lý cũng góp phần quan trọng trong việc kiểm soát co ngắn cột và đảm bảo an toàn công trình.

III. Công nghệ xây dựng và vật liệu

Công nghệ xây dựngvật liệu xây dựng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng và độ bền của các công trình cao tầng. Việc sử dụng các vật liệu có độ bền cao và công nghệ thi công tiên tiến giúp giảm thiểu co ngắn cộtvênh co. Các nghiên cứu chỉ ra rằng việc áp dụng các công nghệ xây dựng mới như cảm biến không dây để quan trắc biến dạng có thể nâng cao hiệu quả kiểm soát co ngắn cột. Vật liệu xây dựng chất lượng cao cũng góp phần giảm thiểu các vấn đề liên quan đến biến dạng và đảm bảo an toàn công trình.

3.1. Vật liệu xây dựng và co ngắn

Vật liệu xây dựng có ảnh hưởng lớn đến hiện tượng co ngắn cột. Các vật liệu có độ co ngót và từ biến thấp giúp giảm thiểu co ngắn cộtvênh co. Các nghiên cứu chỉ ra rằng việc sử dụng bê tông cốt thép chất lượng cao và các phụ gia giảm co ngót có thể cải thiện đáng kể hiệu suất của các công trình cao tầng. Vật liệu xây dựng tiên tiến cũng góp phần đảm bảo an toàn công trình và kéo dài tuổi thọ của công trình.

3.2. Công nghệ quan trắc biến dạng

Công nghệ quan trắc biến dạng như cảm biến không dây được sử dụng để theo dõi co ngắn cột trong quá trình thi công. Các nghiên cứu chỉ ra rằng việc áp dụng các công nghệ này giúp kiểm soát hiệu quả vênh co và đảm bảo an toàn công trình. Quy trình thi công hợp lý kết hợp với công nghệ quan trắc tiên tiến có thể nâng cao chất lượng và độ bền của các nhà siêu cao tầng.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ kỹ thuật nghiên cứu phương pháp tối ưu bù co ngắn cột btct nhà siêu cao tầng ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CO NGẮN CỘT VÀ BÙ CO TRONG XÂY DỰNG NHÀ SIÊU CAO TẦNG 1.1 GIỚI THIỆU CHUNG 1.1 Nhà siêu cao tầng bê tông cốt thép (BTCT) đổ tại chỗ Định nghĩa nhà siêu cao tầng thay đổi theo từng quốc gia, khu vực gắn liền với các điều kiện kinh tế, kỹ thuật và xã hội riêng biệt. Hội thảo Quốc tế lần thứ IV về nhà cao tầng của Ủy ban nhà cao tầng và môi trường đô thị (CTBUH) tổ chức tại Hồng Kông năm 1990 đưa ra khái niệm: “nhà cao tầng là một nhà mà chiều cao của nó ảnh hưởng tới ý đồ và cách thức thiết kế”[4]và phân thành 4 loại như sau: - Nhà cao tầng loại 1: từ 9 ÷ 16 tầng hoặc cao nhất 50 mét - Nhà cao tầng loại 2: từ 17 ÷ 25 tầng hoặc cao nhất 75 mét - Nhà cao tầng loại 3: từ 26 ÷ 40 tầng hoặc cao nhất 100 mét - Nhà cao tầng loại 4: từ 40 tầng trở lên hoặc cao trên 100m gọi là nhà cực cao hay nhà siêu cao tầng (SCT). Cách phân loại này cũng hợp với quan niệm về nhà cao tầng của Việt Nam. Như vậy có thể hiểu một cách tương đối rằng nhà siêu cao tầng (hay nhà chọc trời) là những công trình có số tầng lớn hơn 40 tầng hoặc chiều cao công trình lớn hơn 100m.

Tuy nhiên cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và các công nghệ xây dựng hiện đại, nhà cao tầng được xây dựng ngày càng nhiều và chiều cao thì ngày càng lớn hơn trước kia. Năm 2007, trong thông cáo báo chí hàng năm, tổ chức CTBUH đưa ra khái niệm “supertall” trong nhà cao tầng, theo đó chỉ những công trình có chiều cao lớn hơn 200 mét thì mới được coi là nhà siêu cao tầng. Ở Việt Nam, vẫn tồn tại hai quan điểm: thứ nhất là nhà siêu cao tầng là công trình lớn hơn 40 tầng (Văn bản số 6262/BXD-KHCN của Bộ Xây dựng ngày 29/12/2020 v/v xác định tầng cao và chiều cao công trình) [2] và quan điểm thứ hai là nhà siêu cao tầng là công trình từ 60 tầng trở lên [4]. Xét trên nhiều khía cạnh, quan điểm thứ 2 là phù hợp với quy định của nhiều nước trên thế giới và cũng là quan điểm được chấp nhận trong việc xác định phạm vi và đối tượng nghiên cứu của luận án.

9 Hiện nay, với ưu việt của vật liệu BTCT trong chống cháy nổ, xu hướng nhà siêu cao sử dụng kết cấu khung chịu lực bằng bê tông cốt thép đổ tại chỗ, với nhiều sơ đồ kết cấu lõi cứng khác nhau ngày càng gia tăng. Việc lựa chọn khung chịu lực là BTCT đổ tại chỗ vượt trội so với kết cấu thép và kết cấu liên hợp. Có thể kể đến các công trình siêu cao tầng tiêu biểu như Burj - Dubai Tower (Dubai –Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, 828 mét, 164 tầng) (Hình 1.1); Petronas Twin Tower (Kuala Lumpur - Malaixia, 432 mét, 88 tầng); Bank of China Tower (Hồng Kông – Trung Quốc, 369 mét, 70 tầng); Jin Mao Building (Thượng Hải – Trung Quốc, 421 mét, 88 tầng); Texas Commerce Tower (Texas - Mỹ, 305 mét, 75 tầng); Federasia Tower – Moscow City (Mátxcơva – LB Nga, 506 mét, 94 tầng); Bitexco Financial Tower (TP Hồ Chí Minh – Việt Nam, 269m, 68 tầng),Keangnam Landmark 72 (Hà Nội – Việt Nam, 350m, 72 tầng,); Lotte Center Hanoi (Hà Nội – Việt Nam, 272 mét, 65 tầng); Vincom Landmark 81 (TP Hồ Chí Minh – Việt Nam, 461 mét, 81 tầng) (Hình 1.2) và nhiều công trình khác.1 Burj Khalifa Tower[12] Hình 1.2 Khái niệm co ngắn cột và bù co trong xây dựng nhà siêu cao tầng Hiện tượng co ngắn cột (Column Shortening - CS): Là hiện tượng cấu kiện bê tông cốt thép chịu lực theo phương thẳng đứng (lõi, cột, vách) bị biến dạng dọc trục dưới tác dụng của tải trọng, co ngót và từ biến của bê tông [32]. Một số khái niệm và thuật ngữ sử dụng: - Co ngắn cấu kiện cột là giá trị co ngắn xác định riêng cho cột đơn lẻ.

- Co ngắn cột (vách, lõi) để tính toán bù co là giá trị co ngắn tích lũy sau thời điểm đổ bê tông sàn được xác định theo cao độ mốc chuẩn các mức sàn thiết kế (co ngắn tuyệt đối) - Vênh co ngắn cột hay gọi là vênh co (Differential Column Shortening - DCS): Là chênh lệch giữa giá trị co ngắn lõi cứng và cột (vách) liền kề, có thể dẫn tới hiện tượng vênh của kết cấu nằm ngang như dầm, sàn (Vênh co là giá trị tương đối) - Bù co ngắn cột hay gọi tắt là bù co (Shortening Compensation): Là việc sử dụng các giải pháp cung cấp trước cho cột một lượng chiều cao thiếu hụt theo chiều ngược lại với chiều co ngắn trong quá trình thi công cột nhằm cân bằng với giá trị co ngắn cột tương ứng, diễn ra trong giai đoạn sử dụng công trình sau này. - Vênh co tích lũy (Accumulated Differential Column Shortening) tại mỗi cấp sàn là chênh lệch của co ngắn tích lũy của cột (vách) và co ngắn tích lũy của lõi của mỗi tầng tương ứng. - Sai số bù co (Compensation Error) tại mỗi cấp sàn là hiệu số của giá trị vênh co thiết kế/thực tế và giá trị bù co tại cấp sàn tương ứng. - Sai số bù co tích lũy (Accumulated Compensation Error) tại mỗi cấp sàn là tổng đại số các sai số bù co của các cấp sàn ở phía dưới.

- Ngày mục tiêu là thời điểm giá trị co ngắn có thể đạt được giá trị cực đại - Ngày hoàn thiện sàn là thời điểm tiến hành thi công công tác hoàn thiện sàn 11 1.3 Các nguyên nhân và dự báo co ngắn cột Nguyên nhân gây ra co ngắn cột là do biến dạng đàn hồi, co ngót bê tông và từ biến bê tông cốt thép [32]. - Biến dạng đàn hồi là do cột chịu tải trọng nén và nó phụ thuộc vào: Cường độ bê tông; thời gian chất tải; giá trị của tải trọng. - Co ngót bê tông là hiện tượng thay đổi thể tích và nó phụ thuộc vào: Độ ẩm môi trường xung quanh; kích thước cấu kiện; thành phần bê tông và hàm lượng cốt thép. - Từ biến của bê tông là hiện tượng biến dạng theo thời gian và phụ thuộc vào: Độ ẩm môi trường xung quanh; kích thước cấu kiện; thành phần bê tông và hàm lượng cốt thép; cường độ bê tông; giá trị của tải trọng; thời gian chất tải.

Có thể thấy, co ngắn của cột là hàm số phụ thuộc vào các biến số khác nhau như đặc tính vật liệu, lịch sử chất tải, tiến độ và trình tự thi công, điều kiện khí hậu v. Do đó, việc dự báo chính xác giá trị vênh co là rất phức tạp, đặc biệt là đối với các công trình siêu cao tầng kiến trúc hiện đại. Nhiều mô hình đã được phát triển để dự báo co ngắn cột, đặc biệt là đối với nhà cao tầng và siêu cao tầng BTCT. Trong đó phải kể đến các nghiên cứu sau: Mô hình của Fintel và cộng sự, (1987) và Viện Bê tông Mỹ, 1992 phân tích co ngắn cột dựa vào các yếu tố ảnh hưởng như: lịch sử chất tải; mô đun đàn hồi bê tông; kích thước cấu kiện; điều kiện môi trường nhiệt độ và độ ẩm.

Nghiên cứu đã thực hiện phân tích co ngắn đối với một số công trình cao tầng có hệ kết cấu đơn giản và được kiểm chứng bằng việc đo quan trắc trong thời gian khá dài 19 năm cho kết quả đáng tin cậy. Kết quả báo cáo cho thấy, giá trị co ngắn các cấu kiện đứng có thể lên đến 0,73 mm cho một tầng có chiều cao 3,6 mét và trong một tòa nhà 50 tầng tổng co ngắn có thể sẽ lên tới 36,5 mm trong 2 năm đầu xây dựng. Đối với công trình 70 tầng vênh co giữa cột và lõi có thể lên đến (21,3 – 31,6) mm và vênh co xảy ra giữa cột và lõi cứng là chủ yếu, giữa các cột là không đáng kể. Trong mô hình này đề xuất cần có biện pháp kiểm soát co ngắn đối với các công trình trên 40 tầng [7].

12 Mô hình của Moragaspitiya và cộng sự, 2010 nghiên cứu phân tích co ngắn trên cơ sở mô hình của Fintel và cộng sự, (1987). Tuy nhiên phân tích của Moragaspitiya và cộng sự có kể đến thành phần cốt thép trong bê tông kìm hãm biến dạng co ngắn dọc trục. Kết quả nghiên cứu thấy rằng, co ngắn do đàn hồi và từ biến là hai thành phần chiếm tỷ lệ lớn (khoảng 75 – 80%), thành phần co ngót chiếm khoảng (20 – 25%) tổng co ngắn; giá trị co ngắn bị giảm do thành phần cốt thép trong bê tông kìm hãm lại khoảng 7-15% tổng co ngắn các thành phần theo nghiên cứu của Fintel và cộng sự, (1987) [62] Mô hình của Samarakkody và cộng sự, 2017 là mô hình phân tích co ngắn theo hình thức mô phỏng kết cấu theo các giai đoạn của quá trình xây dựng có kể đến hiệu ứng rất nhạy của biến dạng từ biến khi chiều cao tăng mạnh, độ phức tạp hình dáng kết cấu của kiến trúc hiện đại và sự phân phối lại tải trọng do co ngắn gây ra. Đồng thời, mô hình này đã áp dụng phân tích dự báo co ngắn cho hai tòa nhà siêu cao tầng, đo quan trắc thực tế trong suốt thời gian 7 năm cho kết quả rất đáng tin cậy.

Báo cáo mô hình này cho thấy: Sự tăng chiều cao công trình có hình dáng kiến trúc hiện đại sử dụng bê tông cường độ cao rất nhạy với hiệu ứng co ngắn cột, do đó hiệu ứng co ngắn phải được quan tâm thiết yếu hàng đầu. Ngoài ra, mô hình này cũng đề xuất cần điều chỉnh hệ số hiệu chỉnh cường độ nén theo bê tông địa phương; nên dự báo co ngót và từ biến bê tông theo tiêu chuẩn AS3600-2001, ACI209R-92 và AS3600-2009. Giá trị co ngắn sẽ được chính xác hơn nếu sử dụng kết hợp nhiều mô hình để tính co ngắn thay vì việc chỉ sử dụng một mô hình duy nhất [74]. Mô hình Song và Yoon (2006) phân tích dự báo giá trị co ngắn theo độ tin cậy.

Báo cáo mô hình cho rằng, việc tính toán giá trị co ngắn chính xác theo thời gian là rất cần thiết trong các tòa nhà SCT do nó ảnh hưởng mạnh đến hệ kết cấu và quá trình sử dụng. Giá trị co ngắn là một đại lượng không ổn định và chắc chắn, mang tính dự báo bởi vì nó là một hàm số phụ thuộc nhiều biến như: đặc tính vật liệu, lịch sử chất tải, điều kiện môi trường xây dựng, hàm lượng cốt thép, công nghệ đo quan trắc biến dạng, sai số trong thi công.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Phương Pháp Tối Ưu Bù Co Ngắn Cột BTCT Cho Nhà Siêu Cao Tầng Tại Việt Nam" tập trung vào việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp kỹ thuật nhằm giảm thiểu hiện tượng co ngắn cột bê tông cốt thép (BTCT) trong các công trình nhà siêu cao tầng. Hiện tượng này thường gây ra các vấn đề về kết cấu, ảnh hưởng đến độ bền và an toàn của công trình. Tài liệu cung cấp các phương pháp tính toán, thiết kế và thi công tối ưu, giúp các kỹ sư và nhà thầu nâng cao chất lượng công trình, đảm bảo tuổi thọ lâu dài và giảm chi phí bảo trì. Đây là nguồn tham khảo quý giá cho những ai đang làm việc trong lĩnh vực xây dựng nhà cao tầng tại Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức về các giải pháp kỹ thuật trong xây dựng, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Luận văn nghiên cứu ứng dụng neo đất cho thi công hầm nhà cao tầng tại thành phố Hạ Long, Luận văn thạc sĩ kỹ thuật xây dựng phân tích ảnh hưởng độ cứng sàn đến chuyển vị và nội lực hệ tường vây tính toán theo phương pháp thi công top down, và File excel tính toán móng cọc nhồi cọc ép theo TCVN 10304:2014. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về các phương pháp thiết kế và thi công hiện đại, từ đó áp dụng hiệu quả vào thực tế.