CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP CĂN CHỈNH G7 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm tiêu chuẩn, quy cách, phương pháp [1] Trong lĩnh vực tiêu chuẩn hóa, các bộ tài liệu tiêu chuẩn (standard), qui cách (specification) and phương pháp (method) được xây dựng rất phong phú đa dạng. Tuy nhiên, người sử dụng thường có sự nhầm lẫn hoặc nhận thức chưa đúng về các khái niệm này dẫn đến những bối rối trong quá trình áp dụng. Có thể định nghĩa và phân biệt tiêu chuẩn, qui cách và phương pháp như trong Bảng 1. Tiêu chuẩn Tiêu chuẩn là quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng làm chuẩn để phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của các đối tượng này.
Tiêu chuẩn do một tổ chức công bố dưới dạng văn bản để tự nguyện áp dụng. Quy cách Quy cách hàng hoá là những tiêu chuẩn, những vấn đề liên quan, những yêu cầu cụ thể về mặt kỹ thuật mà một hàng hóa, sản phẩm phải đạt kèm theo sai số cho phép. Là căn cứ quan trọng cho công tác kiểm nghiệm hàng hoá. Những tiêu chuẩn này hoặc do nhà nước quy định, hoặc do hai bên kí hòa hợp đồng kinh tế cam kết thành văn bản ghi trong hợp đồng, hoặc thành văn bản riêng do hai bên kí đính kèm theo hợp đồng kinh tế.
Phương pháp Phương pháp là quá trình để hoàn thành một nhiệm vụ, với tập hợp bao gồm các lý thuyết và các cách thức có tính hệ thống, được sử dụng để tiến hành một hoạt động cụ thể. Phương pháp thường được xác định sau chủ trương và đường lối, tức sự xác định mục tiêu và hướng đi chung cho hành động. Phân biệt các khái niệm về tiêu chuẩn, quy cách và phương pháp 1 Bảng 1.1 Phân biệt các khái niệm về tiêu chuẩn, quy cách và phương pháp [2] Tiêu chuẩn Quy cách Phương pháp Tiêu chuẩn chung Quy cách không phải Còn phương pháp chỉ được thiết lập bởi một cơ là bộ chuẩn mà chỉ là “cái đơn giản là một cách thực quan có thẩm quyền thân” của dữ liệu nó bao hiện. Phương pháp G7 được công nhận như “Tổ gồm: mục tiêu, dung sai xác định mức độ xám chức tiêu chuẩn hóa và sự hướng dẫn để đạt cùng với phương thức Quốc tế” (ISO).
Ví dụ được mục đích là đến bộ thực hiệu chỉnh để điều ISO 12647- 2: 2013 là chuẩn chung. Hay hiểu chỉnh bất kỳ thiết bị chuẩn dành cho Offset tờ nôm na nó chính là tờ in CMYK để mô phỏng cân rời nó tập hợp mục tiêu, gốc để tạo ra chuẩn tham bằng xám. dung sai đo đạc được chiếu. Ví dụ: GRACoL công nhận rộng rãi được và SWOP đều thuộc sở coi là rất hữu ích cho hữu của IDEAlliance là phương pháp đó.
chuẩn kỹ thuật dành cho offset tờ rời và offset cuộn. Một số tổ chức khác như FOGRa (Đức), IFRA, JIS (Nhật) đã rạo ra các bộ chuẩn kỹ thuật đều dựa vào diễn giải của ISO 12647.2 Định nghĩa về G7 G7 là phương pháp được tạo ra bởi Don Hutcheson chủ tịch của IDElliance và người đồng phát triển là GRACoL vào năm 2005. G7 là từ viết tắt quen thuộc cho quá trình hiệu chỉnh cân bằng xám trung tính, nó chỉ định căn chỉnh màu theo bảy mục tiêu được xác định dựa trên ISO. Trong đó, chữ “G” – GRAY đề cập đến giá trị cân bằng xám, số “7” biểu thị cho bảy giá trị màu được chỉ định lần lượt là Cyan, Magenta, Yellow, Black, Red (M+Y), Green (C+Y) và Blue (C+M).
2 G7 có thể được định nghĩa là :[3] - Một phương pháp căn chỉnh theo ISO 10128 cho hiển thị xám trung tính “Near- Neutral”. - Là tiêu chuẩn kỹ thuật cho hiển thị grayscale một cách nhất quán, có thể áp dụng cho tất cả các quy trình in màu. - Một kỹ thuật căn chỉnh nhằm điều chỉnh hình ảnh trong hệ thống để đáp ứng được thông số G7. - Là cơ sở để kiểm soát quá trình.
- Là cơ sở cho hiển thị xám tương đồng cho mọi phương pháp in. Được phát triển ban đầu cho các hệ thống in thử kỹ thuật số, G7 đã được áp dụng thành công ở quy mô rộng cho các quy trình khác bao gồm in offset, ống đồng, Flexo, nhuộm thăng hoa, In phun, In tĩnh điện, In lụa và in ảnh. Sử dụng các đường cong 1 chiều đơn giản, G7 mang lại kết quả khớp trực quan gần nhất có thể giữa các hệ thống hình ảnh khác nhau, điều này có thể đạt được mà không cần các hệ thống đa chiều phức tạp hơn như quản lý màu ICC.2 Các thông số cần kiểm soát trong G7 1.1 Nguyên tắc của G7 [4]: - Sự bảo toàn ở vùng sáng (Highlight Preservation) Một đặc điểm độc đáo của G7 đó là mật độ density và độ tương phản ở vùng sáng (mà mắt người rất nhạy) được bảo toàn, bất kể khoảng phục chế sáng, trong khi ở vùng tối được thu hẹp hoặc mở rộng để đáp ứng các khả năng hoặc giới hạn của từng quy trình. Điều này có nghĩa là một hình ảnh in bốn màu CMYK trên nhiều thiết bị đã được căn chỉnh G7 sẽ có khả năng phục chế tầng thứ khác nhau để thể hiện độ sáng và độ tương phản phù hợp một cách tương đối.
- Bề mặt vật liệu tương đối (Substrate Relativity) Như phần trên đã đề cập, cân bằng xám của G7 một phần là dựa trên tính tương đối của bề mặt vật liệu. Điều này nghĩa là hình ảnh grayscale luôn xuất hiện trung tính trên thiết bị căn chỉnh G7, khi so sánh với bề mặt vật liệu thực tế mà nó được in. - Tính tương phản tương đối (Contrast Relativity) 3 Công thức tông màu xám của G7 (NPDC – Neutral Print Density Curve) là “tính tương phản tương đối – contrast relative”, nó sẽ tự động thích ứng với độ sáng của bề mặt vật liệu và mật độ density trung tính tối đa của thiết bị. Điều này có nghĩa là hình ảnh grayscale luôn tận dụng độ tương phản trung tính tối đa trên thiếu bị đã căn chỉnh G7.
Đường cong mật độ xám NPDC là một khái niệm hoàn toàn mới trong phương pháp căn chỉnh bằng G7. Đó là đường biểu diễn mối quan hệ giữa mật độ xám trung tính đo được trên tờ in tương ứng với tỷ lệ giá trị tông tram trên file (thang xám). NPDC sử dụng trong G7 gồm 2 đường, một là NPDC cho CMY và hai là NPDC cho màu đen (K). NPDC thay thế cho những đường cong TVI CMY riêng biệt.
Nghiên cứu của IDEAlliance cho thấy việc hiệu chỉnh theo thang xám trung tính giúp ổn định trực quan hình ảnh tốt hơn so với điều chỉnh bằng các đường cong TVI riêng biệt. Ví dụ về đường cong mật độ trung hòa xám NPDC của CMY và màu K trên phần mềm Curve 4 1.2 Phương pháp đánh giá cân bằng xám Nguyên tắc đạt cân bằng xám theo G7 được xác định dựa trên khả năng thích ứng màu sắc của mắt người. Kết quả quan sát phụ thuộc vào tính vô sắc của giấy (giá trị a* b*). Hầu hết các loại giấy hiện nay đều không đạt được độ trung tính tuyệt đối, tức là a* và b* khác 0.
Hiển thị màu xám trên giấy khác nhau có thể dẫn tới cảm nhận màu thay đổi. Bởi vậy, phương pháp đánh giá màu xám của G7 dựa trên tham chiếu trung tính là nền giấy. Giá trị mục tiêu cân bằng xám theo G7 được xác định dựa trên công thức a* = paper_a* x gray factor b* = paper_b* x gray factor gray factor = 1 – C/100 4 Cân bằng xám G7 được đánh giá bằng giá trị ∆Ch và ∆L[ 5]. + ΔCh: Delta-Ch (ΔCh) là sự khác biệt về màu sắc giữa hai màu, bỏ qua mọi khác biệt về độ sáng.
Điều này làm cho ΔCh là số liệu hoàn hảo để biểu thị các lỗi trong cân bằng xám. Về mặt đồ họa, ΔCh là dòng ngắn nhất hoặc vectơ, giữa hai điểm trên biểu đồ a*/b*, như được hiển thị bên dưới.1 Minh họa ΔCh trong không gian màu là một vectơ Về mặt toán học, ΔCh là biểu thức tuyệt đối (luôn dương) của các giá trị delta a * và delta b * kết hợp, trong đó: + wΔCh: Cũng tương tự như w∆L*, các lỗi về cân bằng xám khó kiểm soát sẽ tác động nhiều đến vùng tông sáng nhiều hơn vùng tông tối. Mục tiêu của hàm trọng số là giảm thiểu tầm quan trọng của các lỗi cân bằng xám khó kiểm soát trong vùng CMY rất tối thường được bao phủ bởi mực đen.2 Trọng số wΔL* Công thức w∆Ch làm giảm tầm quan trọng của phép đo ∆Ch trên giá trị phần trăm màu Cyan (C%). Từ vùng tông 0- 50%, sự tác động của các lỗi về cân bằng 5 xám sẽ là 100%, từ vùng tông 50%- 100% mức tác động này sẽ giảm dần theo hàm tuyến tính từ 100% về còn 25%.
Hàm trọng số được xác định trong thông số G7 (TR015) và tài liệu Pass / Fail G7 Master như sau: wΔCh sử dụng để kiểm tra thử độ chính xác cân bằng xám, bằng cách chỉ đo cột 5 (CMY) trong thang P2P51 Hình 1.3 Kiểm tra wΔCh thông qua cột 5 của thang P2P51 + ΔL* là sai lệch về độ sáng giữa kết quả đo được trên tờ in và giá trị mục tiêu, được tính bằng công thức: + wΔL*: Các lỗi về độ sáng sẽ gây ảnh hưởng đến việc quan sát màu của mắt ở vùng tông sáng nhiều hơn là ở vùng tông tối. Mục tiêu của hàm trọng số là giảm thiểu tác động của các lỗi độ sáng này tại vùng tông tối.4 Trọng số wΔL* 6 Công thức w∆L* làm giảm tầm quan trọng của phép đo ∆L* trên giá trị phần trăm thang xám Grayscale (%). Từ vùng tông 0- 50%, sự tác động của các lỗi về độ sáng sẽ là 100%, từ vùng tông 50%- 100% mức tác động này sẽ giảm dần theo hàm tuyến tính từ 100% về còn 25%. wΔL* sử dụng để kiểm tra thử độ chính xác NPDC, bằng cách chỉ đo cột 4 và 5 trong bảng P2P51 Hình 1.5 Kiểm tra wΔL* thông qua cột 4 và 5 của thang P2P51 1.3 Các cấp độ G7 – Hiệu chuẩn G7 Tùy thuộc vào các cách áp dụng, G7 tạo ra một số mức độ tuân thủ khác nhau như sau: 1.1 G7 Grayscale Đây là mức độ căn chỉnh đầu tiên và cũng là mức cơ bản trong phương pháp G7 để căn chỉnh hệ thống in đạt được cân bằng xám.