MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài Bản vẽ kỹ thuật cơ khí đã đƣợc sử dụng nhƣ một ngôn ngữ chuẩn để mô tả máy móc, thiết bị và chi tiết máy trong quá trình thiết kế và chế tạo cơ khí kể từ thế kỷ 19 và vẫn đang đóng một vai trò thiết yếu trong thực tiễn kỹ thuật ngày nay. Hầu hết các sản phẩm hiện tại đang đƣợc biểu diễn và lƣu trữ bằng bản vẽ kỹ thuật. Nhƣng ngày nay, mô hình hoá 3D (Dimension - chiều) đƣợc tạo ra bởi các hệ CAD/CAM (Computer Aided Design / Computer Aided Manufacturing – thiết kế và gia công với sự trợ giúp của máy tính) hiện đại đang hết sức phổ biến trong cơ khí, và các mô hình 3D này là cần thiết đối với hàng loạt kỹ thuật phát triển với sự hỗ trợ máy tính, chẳng hạn nhƣ phân tích phần tử hữu hạn, mô phỏng lắp ráp, động học, động lực học, gia công điều khiển số, quan sát trực quan v. Đáng tiếc là các thông tin có được trong các bản vẽ 2D không thể sử dụng trực tiếp trong các hệ thống CAD 3D.
Ngoài ra, việc thiết kế mới mô hình 3D một cách trực tiếp trên các hệ thống CAD 3D cũng gặp phải những bất lợi đáng kể và là không dễ cho mọi đối tƣợng đặc biệt là những kỹ sƣ lâu năm. Do đó, việc chuyển đổi tự động bản vẽ kỹ thuật thành mô hình CAD 3D là rất cần thiết. Vì vậy, nhiều công ty nƣớc ngoài chẳng hạn Nipon của Nhật đang tuyển dụng và sử dụng các kỹ sƣ của chúng ta chỉ để vẽ lại mô hình 3D từ bản vẽ 2D, đấy cũng là tình hình chung trên thế giới khi mà nền cơ khí hiện đại gắn liền với các hệ CA (Computer Aided – trợ giúp máy tính) luôn đòi hỏi mô hình thiết kế 3D trong khi vẫn còn và sẽ còn tồn tại nhiều bản thiết kế 2D. Tóm lại sự tồn tại mang tính tự nhiên và lịch sử của cả hai dạng thiết kế 2D và 3D đòi hỏi có một cầu nối giữa chúng.
Nếu nhƣ chiều nối từ 3D sang 2D là tƣơng đối dễ dàng mà mọi phần mềm CAD/CAM đều đạt đƣợc (AutoCAD 12- 1990 đã thực hiện tốt) thì chiều ngƣợc lại, 2D sang 3D, là hết sức khó khăn. Nhu cầu có đƣợc một “chiếc cầu” hai chiều nối liền hai mô hình thiết kế đƣợc đặt ra hết sức tự nhiên và cấp thiết trong khoa học kỹ thuật và đƣợc minh chứng bằng hàng loạt công trình khoa học quốc tế suốt hơn nửa thế kỷ vừa qua nhƣng cho đến nay, những kết quả đạt đƣợc còn khá nhiều vấn đề tồn tại (nhƣ miền đối tượng cho phép phản chuyển còn khá hẹp, cần nhiều hình chiếu trên bản vẽ 2D …) nên chưa có một phần mềm nào trên thực tế thực hiện tốt chiều ngƣợc lại và đó chính là lý do NCS, sau khi đƣợc sự đồng ý của GS hƣớng dẫn, đã lựa chọn đề tài của luận án là: “ Nghiên cứu xây dựng phương pháp phản chuyển từ các hình chiếu cơ bản thành mô hình 3D ứng dụng cho các hệ CAD/CAM Cơ Khí ” 1 Mục đích của đề tài Mục đích cuối cùng của đề tài là để có đƣợc công cụ hỗ trợ cho công tác thiết kế 3D dựa trên các bản thiết kế 2D có sẵn hoặc thiết kế mới 3D theo phƣơng pháp thuận tiện và mềm dẻo hơn, từ đó làm chủ cơ sở dữ liệu hình học 3D của đối tƣợng thiết kế để cung cấp cho quá trình chế tạo, đo lường và những ứng dụng phong phú khác trong lĩnh vực kỹ thuật cơ khí với công nghệ CA. Nội dung của luận án - Xây dựng phương pháp phản chuyển dựa trên mô hình B-Rep (Boundary Representation) từ hai hình chiếu cơ bản của những chi tiết kỹ thuật phổ biến. - Xây dựng công cụ thực nghiệm và thực nghiệm phản chuyển trên nhiều mẫu để kiểm định độ tin cậy, cũng nhƣ hiệu chỉnh hoàn thiện phƣơng pháp phản chuyển đề xuất.
- Thực nghiệm ứng dụng mô hình phản chuyển 3D trong gia công cơ khí và đo lƣờng với công nghệ CAD/CAM/CNC/CAQ (CNC - Computer Numerical Control – điều khiển số bởi máy tính; CAQ - Computer Aided Qualify – đo sai lệch với sự hỗ trợ máy tính). Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu của luận án - Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống phản chuyển tự động từ các hình chiếu cơ bản thành mô hình 3D. - Phạm vi nghiên cứu của luận án: Bản vẽ 2D trên thực tế bao gồm nhiều thành phần: Hình chiếu cơ bản, hình cắt, mặt cắt, hình chiếu phụ, hình trích, kích thƣớc. Trong luận án, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu chi tiết về quá trình phản chuyển từ bản vẽ chi tiết máy đƣợc biểu diễn chính xác bởi hai hình chiếu đứng và bằng (có đủ nét khuất) của các chi tiết kỹ thuật phổ biến đƣợc bao bọc bởi các mặt phẳng, mặt trụ vuông góc với mặt phẳng hình chiếu, mặt nón tròn xoay, mặt xuyến có trục vuông góc với mặt phẳng hình chiếu và mặt cầu.
Các bản vẽ này đƣợc tạo ra trên các hệ CAD theo chuẩn DXF (Drawing Exchange Format) bao gồm các phân đoạn thẳng và tròn, loại nét thấy đƣợc đƣa vào Layer (lớp) “0” và loại nét đứt đƣợc đƣa vào Layer “1”, những nét khác đƣợc đƣa vào các Layer tƣơng ứng. Phạm vi nghiên cứu trên không làm mất tính tổng quát và độ mở của hệ thống để có thể tiếp tục phát triển về sau. - Phương pháp nghiên cứu: Kết hợp nghiên cứu lý thuyết (là phƣơng pháp phản chuyển dựa trên mô hình biểu diễn biên) với thực nghiệm để kiểm chứng và hiệu chỉnh phƣơng pháp. 2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn - những đóng góp mới của luận án Ý nghĩa khoa học: Phương pháp phản chuyển được tìm ra và đề xuất là một trong số rất ít phƣơng pháp phản chuyển trên thế giới dựa trên biểu diễn B-Rep chỉ từ hai hình chiếu mà phản chuyển thành công cho hàng loạt mẫu đối tƣợng khá phức tạp về loại mặt (bao gồm cả mặt tròn xoay nhƣ nón, cầu , xuyến), về giao tuyến và cấu trúc hình học của vật thể (các khối xuyên nhau tạo nên những cấu trúc tô-pô đặc biệt), trong đó chứa đựng những giải pháp mới nhƣ loại bỏ các đối tƣợng sai có sử dụng thông tin thấy khuất trên hình chiếu, kiểm tra điều kiện tô-pô theo vùng, dùng mặt phẳng cạnh để chia cắt hình chiếu nhằm tăng tốc độ phản chuyển.
Phƣơng pháp phản chuyển đề xuất đã đƣợc kiểm chứng qua 9 mẫu thử nghiệm và đều đạt độ chính xác của mô hình 3D so với bản vẽ 2D là 100%. Ý nghĩa thực tiễn: Xây dựng thành công công cụ thực nghiệm phản chuyển là một phần mềm viết bằng ngôn ngữ Visual C hơn 4500 dòng lệnh, hỗ trợ cho AutoCAD phản chuyển tự động các bản vẽ hai hình chiếu thành mô hình Solid 3D cung cấp cho những ứng dụng trong lĩnh vực Kỹ thuật Cơ khí trên những hệ thống CAD/CAM tiên tiến. Thực nghiệm phản chuyển trên 9 mẫu, thực nghiệm gia công cơ khí và đo lường 3 chi tiết từ mô hình phản chuyển 3D đã cho ra những số liệu thực tế phản ánh độ chính xác mô hình phản chuyển 3D là tuyệt đối, độ chính xác của biên dạng chi tiết sau gia công khá cao (0,018 và 0,056 mm). Kết quả thực nghiệm đó đã khẳng định độ tin cậy, tính khả thi của phƣơng pháp phản chuyển đề xuất cũng nhƣ mở ra khả năng ứng dụng của nó trong Kỹ thuật Cơ khí với công nghệ CA.
Luận án đƣợc trình bày trong 126 trang chia thành bốn chƣơng có nội dung nhƣ sau: Chƣơng 1: Trình bày tổng quan về tình hình nghiên cứu phản chuyển, chỉ ra những ƣu điểm và tồn tại nhằm định hƣớng nghiên cứu cho đề tài. Chƣơng 2: Trình bày cơ sở lý thuyết của phƣơng pháp phản chuyển từ nhiều hình chiếu dựa trên biểu diễn B-Rep để làm cơ sở lý luận cho phƣơng pháp NCS đề xuất. Chƣơng 3: Nghiên cứu đề xuất phƣơng pháp phản chuyển, là một phƣơng pháp dựa trên biểu diễn B-Rep từ hai hình chiếu cơ bản. Phƣơng pháp đƣợc trình bày hướng thực tiễn và đủ chi tiết cho việc áp dụng để tạo ra công cụ phản chuyển trên AutoCAD.
Chƣơng 4: Trình bày kết quả thực nghiệm phản chuyển trên chín mẫu. Phân tích, thảo luận làm sáng tỏ và hoàn thiện phƣơng pháp phản chuyển đề xuất. Ngoài ra, còn trình bày thực nghiệm ứng dụng kết quả phản chuyển trong lĩnh vực kỹ thuật cơ khí. Phần cuối cùng là những kết luận và đề xuất hƣớng nghiên cứu tiếp theo của đề tài.
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHẢN CHUYỂN Chƣơng này khảo sát các công trình khoa học trên thế giới liên quan đến vấn đề phản chuyển tự động trên máy tính từ file bản vẽ kỹ thuật 2D thành mô hình 3D (trong nước, trước đây, chưa có công trình khoa học nào về lĩnh vực này). Công việc khảo sát tìm hiểu đặc trƣng về phƣơng pháp, kết quả đạt đƣợc và những tồn tại của các công trình nghiên cứu, từ đó đặt ra những định hƣớng cho luận án. Những khái niệm đƣợc đƣa ra trong phần 1.1 có liên quan đến việc khảo sát đánh giá các công trình nghiên cứu về phản chuyển đƣợc trình bày trong phần 1.1 Biểu diễn (representation) trên máy tính của vật thể Mô hình hình học của một đối tƣợng thực là tập hợp các thông tin về một đối tƣợng mà có thể xác định đầy đủ các tính chất hình học nhƣ hình dạng, kích thƣớc, hƣớng và vị trí của các thành phần tạo nên đối tƣợng. Một phƣơng pháp thống nhất để mô tả vật thể là không thể có đƣợc.
Các mô hình phải đáp ứng các yêu cầu rất khác nhau và đôi khi thậm chí đối kháng. Mô hình cần đơn giản, dễ xây dựng và sửa đổi. Tuy nhiên, các chƣơng trình trên máy tính đòi hỏi rất nhiều thông tin trung gian dành cho việc tính toán các thuộc tính tĩnh và động, thí dụ thông tin hình học dùng trong thuật toán chiếu. Mặt khác, cấu trúc dữ liệu nên tổ chức khoa học để có thể xử lý trong thời gian hợp lý.
Nhiều tác giả giải quyết các vấn đề về cấu trúc dữ liệu cho biểu diễn [17], [28], [31].1 Biểu diễn biên Bằng cách này, các vật thể đƣợc biểu diễn dựa trên sự mô tả của các đối tƣợng biên do đó đƣợc viết tắt bằng chữ B-Rep (Boundary Representation). Các cấp độ của biểu diễn biên nhƣ sau: - Biểu diễn cạnh, đỉnh Đây là cách biểu diễn ít thông tin nhất và đơn giản nhất của vật thể dựa trên sự mô tả các cạnh và các đỉnh của một đối tƣợng thực sự.