BỘ TƯ PHÁP TRUONG ĐẠI HỌC LUAT HÀ NỘI KY YEU HỘI THẢO KHOA HỌC TRUNG TÂM TOI PHAM HỌC - KHOA PL HÌNH SỰ vue TÂM THÔN TM THƯ VỆY i HÀ Nội HÀ NỘI —2014 TRUNG TAM TOI PHAM HỌC DANH MỤC CAC CHUYÊN DE HỘI THẢO CAP KHOA “Phòng ngừa tội phạm - Một số vấn đề lí luận và thực Chuyên đề Trang 1, Giới thiệu một số học thuyết về phòng ngừa tội phạm 1 A PGS.TS Dương Tuyết Miễn ~ DH Luật Hà Nội 2. Khái niệm, phân loại, các nguyên tắc của phòng ngửa tội phạm 13 {Ths Nguyễn Viet Khánh Hoà- DHLuật Hà Nội. Phòng ngừa tội phạm từ gỏc 46 tội phạm học so sánh 2 Hà Nội. Lê Thị Sơn- ĐH Luật 4, Đánh giá hiệu quả phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam hiện nay 44 Ths Ngõ Văn Vinh- Học viện Cảnh sát nhân dân 5.
Phòng ngừa tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam giai đoạn hiện Số T> nay. lý Văn Quền- ĐH Luật Hồ Nội 6. Phòng ngừa tội phạm theo hướng tiếp cận nhân thân người phạm tội 77 f TS. Đỗ Thi Phượng - DH Luật Hà Nái 7.
Phòng ngừa tội phạm vŠ ma tuý ở Việt Nam giai đoạn hiện nay 82 {s Nguyễn Tuyết Mai- DH Luật Hà Nội. 8, Phòng ngừa tội phạm về tình dục ở Việt Nam giai đoạn hiện nay — 103 Ths. Lưu Hải Yến - ĐH Luật Hà Nội GIỚI THIỆU NỘI DUNG CƠ BẢN CUA MOT SO THUYET VEL PHONG NGỪA TỘI PHAM PGS. Dương Tuyết Miên Giám đắc TT Tội phạm học Trường ĐH Luật Hà Nội Các thuyết về phòng ngừa tội phạm đóng vai trò quan trong trong việc cung.
cấp những lí luận nền tảng trong phòng ngừa tội phạm. Vì tội phạm học là ngành khoa học xã hội, do vậy, không nên đi sâu tranh luận thuyết nào đúng, thuyết nào sai. Vấn đề quan trọng là ở chỗ đóng góp của từng thuyết trong việc ngăn ngừa cũng như kiểm soát tội phạm và người hoạch định chính sách phòng, ngừa tội phạm phải biết phát huy, tận dụng những mặt mạnh của từng thuyết để ngăn ngừa không cho tội phạm xảy ra hoặc xảy ra hạn chế. Sau đây, tác giả xin giới thiệu một số thuyết về phòng ngừa tội phạm.
1) Thuyết cơ hội phạm tội (Crime Opportunity Theory) Người đứng đầu “thuyét cơ hội” là Felson và Clarke (1998)'. Hai ông cho ring nắm được lí thuyết của “thuyet co hội” có thể trợ giúp cho phòng ngửa tội phạm. Theo nội dung của “thuyết co hội”, "cơ hội phạm tội” được coi là nguyên nhân gốc rễ sinh ra tội phạm (root cause of crime). Do vậy, dé giảm tỉ lệ tội phạm thi tốt nhất không tạo ra cơ hội cho người khác phạm tí Ví dụ, phụ nữ đi lại một mình nơi hoang vắng sẽ dễ tạo cơ hội cho người phạm.
thực hiện hành vi hiếp dâm, người chủ chiếc xe máy để xe ở nơi công cộng ma không khoá xe, không gửi vào chỗ qui định dẫn đến cơ hội thuận lợi cho người phạm tội trộm cắp tài sản. “Thuyết cơ hội” đã đưa ra 10 nguyên tắc trong phòng ngừa tội phạm (the Ô Xem Felson, M and Clarke, R.V (1998), Opparumly Mates the Thi: Police Research Seres Paper 98, Policing and Reheng Crime Unit” Research Development and. Sniels và xem \wwchomeotice gous pepatepr98 poe 1 10 principles of crime opptunity theory)’. Việc hoạch định chính sách phòng, ngừa tội phạm cũng như triển khai các biện pháp phòng ngừa cụ thể cần bám.
sát 10 nguyên tắc này. Cụ thể là: 1. Các cơ hội đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nguyên nhân của tất cả. phạm, không chỉ đơn thuần đối với các tội xâm phạm tài sản nói chung.
Các cơ hội phạm tội là khác nhau đối với các mục đích phạm tội khác nhau. Ví dụ cơ hội trộm cắp ô tô vì cảm giác thích lái xe xịn thi rit khác về cơ. hội đối với việc trộm cắp các bộ phận của chiếc 6 tô để bản lấy tiền. co hội phạm tội thường tập trung ở một thời điểm nhất định và trên một địa bàn nhất định.
Ở một thời điểm nào của ngày hoặc tuần, tội phạm dễ 4, Cơ hội phạm tội phụ thuộc vào hành vi thường xuyên, các thói quen của con người trong đời sống hàng ngày. Ví dụ trộm cắp tai sản trong nhà thường. Xây ra khi chủ sản đi vắng, 5. Mộtội phạm xây ra có thé tạo cơ hội cho người khác thực hiện tội phạm.
‘Vi dụ: sau khi giết chết nạn nhân, người phạm tội ra khỏi nhà nạn nhân, không. khoá cửa tạo cơ hội cho người khác vào trộm cấp tài sản. Một số hàng hoá “néng”'(hot products) cũng thúc đẩy đưa đến cơ hội phạm i. Vi dụ: sự xuất hit của những chiếc điện thoại di động sang trọng, ất tiền thôi thúc một số người muốn sở hữu loại hàng đó và để đạt được điều này họ đã phạm tội (như cướp tai san dé có tiền mua điện thoại di động).
Sự thay đổi của xã hội và công nghệ đã tạo ra cơ hội phạm tội mới. Khi bit đầu ở giai đoạn tăng trưởng và tiếp cận thị trường 6 ạt, các tài sản thường. được bảo vệ ở mức cao nhất. Nhưng khi phần lớn các hàng hoá đạt đến giai đoạn “bão hoà” (saturation), khi đó phần lớn mọi người đã có chủng, do vậy, hg sẽ lỏng lẻo hơn trong việc bảo vệ tài sản.
Ê Xem bai ging tực tytn On ne leaning, “Ten prnelples of crime oppramiy theory” tên trang Webs Ieper cimeredit tang 1.23, ˆ “Hot product có hb ann hàn hoi thời hượng, a dn tha hủ sự em mể côn người khác, Ch thíc cls ác h gi. Tội phạm có thể được phòng ngừa bằng cách làm giảm cơ hội phạm tội. Các biện pháp giảm cơ hội phát sinh tội phạm phải được thực hiện hàng ngày ‘va phải đáp ứng ngay cả đối với các tinh huống đặc biệt. 9, Giảm co hội phạm ội thì không loại trừ được hoàn toàn tội phạm.
Nhiều cuộc nghiên cứu đã chứng minh là giảm cơ hội phạm tội thì có tác dụng làm tỉ lệ tội phạm giảm đi chứ không lo bỏ hẳn tội phạm. Giảm cơ hội phạm tội một cách tập trung thì có thể tạo ra hiệu ứng dây chuyển giảm mạnh ti lệ tội phạm. Cụ thé là các biện pháp phòng ngừa ở địa phương này có hiệu quả thì cũng ảnh hưởng, làm giảm mạnh tội phạm ở địa phương lân cận khác. Điều này có nghĩa là các biện pháp phòng ngừa ở địa phương này đã làm cho người phạm tội ở địa phương lân cận phải e ngại không dám thực hiện tội phạm như trước hoặc dừng lại không thực hiện tội phạm nữa.
Trên cơ sở thuyết cơ hội phạm tội, các nhà tội phạm học đã xây dựng các kĩ thuật phòng ngừa tội phạm. Người đầu tiên đưa ra các kĩ thuật phòng ngừa tội phạm là nhà tội phạm học Clarke (năm 1993). Ông đã đưa ra 12 kĩ thuật phòng, ngừa nhằm đối phó với tình hình tội phạm đường phố và tội cướp. năm 1997, Clarke và Holme đã sửa đổi 12 kĩ thuật này thành 16 kĩ thuật nhằm.
đối phó với một số tội phạm khác nữa như tội phạm trong lĩnh vực giao thông, tội phạm lạm dụng tình dục, trốn thuế, trộm cắp tải sản. Đến năm 2003, Cornish và Clarke đã mở rộng tổng số các kĩ thuật phòng ngừa tội phạm lên thành 25 kĩ thuật, bao gdm cả những kĩ thuật giảm sự khiêu khích phạm tội." 2) Thuyết sự lựa chọn day lí (Rational Choice Theory lắng Anh viết tắt là RCI) “Thuyết sự lựa chọn duy li có vị trí rất quan trọng trong phòng ngừa tội phạm`, “Thuyết sự lựa chọn duy lí" được hình thành dựa trên sự kết hợp tư tưởng của nhà sáng lập ra trường phái tội phạm học cỗ điển Cesare Beccaria * Để biết thêm về các kĩ thuật phòng ngừa tội phạm, bạn đọc có thé xem sich “Tội phạm học đương đại", NXB chính trì quốc gia, HN năm 2013, Ô Xem bồi ging tực tuyển ve “THỤỚ sự fer chọm chy ÍP tên tang Web MP wow timeredvtion govulletmingznn 3 (với luận điểm cho rằng nguyên nhân của tội phạm là tự do ý chí, sự lựa chọn của cá nhân người phạm tội) và "thuyết vị lợi” của Jeremy Bentham. Một thời kì dai, trường phái tội phạm học cổ dién bị lấn at bởi tội phạm học thực chứng và trường phái Chicago. Cho đến thập niên 70, thuyết sự lựa chọn duy lí đã được phát triển trở lại bởi James.
Wilson, Gary Becker, George Stigler”. Đến năm 1986, thuyết sự lựa chọn duy lí tiếp tục được phát triển bởi Comish và Clarke. “Thuyét sự lựa chon duy lí" cho ring người phạm tội cũng như những. người bình thường khác đều suy nghĩ, cân nhắc trước khi quyết định thực hiện.
hành vi của minh, Họ suy nghĩ xem có lợi hay không có lợi trước khi quyết định thực hiện hành vi phạm tội và suy nghĩ vấn đề này trong các thuật ngữ kinh tế. Khi có cơ hội phạm tội, người phạm tội thường phân tích, cân nhắc họ. được gì khi thục hiện tội phạm, nếu thấy có lợi họ mới phạm tội và lợi ích của. việc phạm tội thì lớn hơn lợi ích của việc không thực hiện tội phạm.
Phần lớn tội phạm được thực hiện bởi lí do người phạm tội suy nghĩ rằng họ có thể không bj bắt và ho sẽ được hưởng lợi một cách xứng đáng sau khi phạm tí 'Nội dung của thuyết này gồm những luận điểm cơ bản sau”: 1. Bản chất hành vi của con người là xử sự có lí trí; 2. Tính có lí của hành vi liên quan dựa trên sự tính toán của cá nhân con người; 3. Mọi người tự do lựa chọn tắt cả các hành vi của họ bao gồm cả hành vi hợp pháp và cả hành vi lệch lạc trên cơ sở sự tính toán hợp lí của ho;.
Yếu tố tập trung của sự tính toán có liên quan đến sự phân tích mức độ có > Xen Gary Becker, “Crime andjpmislmtenf" In Jooral of Polite Econony, Vol 6), March: Asi 1968, {© 196.217 và Xem George StiglrTM Phe optimum enforcement of avs”, ol 783) Nay-lưe 1970, 326-536. * Xen tang Web btp/foineptevenlonrưgerssdulogieUSCP®/20Netyyđheo2. “Xem bãi giảng trực tuydn v8 “thuyEt ự lựa chọa dy IF tên mang Web hp? rv erimereduction gov ubleangzon LÊ Xem trang Web htp.unsledu-keel200fatchocumlhobe xem cức cing tinh nghiên cứu củ: các tắc ii Marcas Fe, Crime and Breryday Life Insight and Implications fr Sct, Pine Farge Pes, 1994; Allen Lis, Perspectives ov Deviane, 2nd el Prentice Hal, 1987; Lary Sigel, Criminology, hed, West publishing, 1993 4 lợi (bao gồm cả vấn dé có lợi va bat lợi); 5. Sự lựa chọn của cá nhân với tất cả các điều kiện ngang bằng khác nhau sẽ: trực tiếp hướng tới lợi ích cho cá nhân ở mức tối đa; 6.