CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số vấn đề về kỹ năng ngôn ngữ và dạy học phát triển kỹ năng ngôn ngữ 1. Kỹ năng ngôn ngữ Ngôn ngữ là hệ thống các đơn vị vật chất (âm vị, hình vị, từ, câu) và những quy tắc kết hợp, biến đổi cụ thể của các đơn vị này để tạo thành lời nói trong giao tiếp. Những đơn vị ngôn ngữ và những quy tắc ngôn ngữ được phản ánh trong ý thức của cộng đồng và trừu tượng hóa khỏi bất cứ một tư tưởng, một cảm xúc và ước muốn cụ thể nào.
Ngôn ngữ là sản phẩm của tập thể, nó tồn tại và phát triển gắn với sự tồn tại phát triển xã hội. Ngôn ngữ ra đời, tồn tại cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người, cũng là để phục vụ cho cuộc sống con người trong mọi lĩnh vực: lao động, sản xuất, đấu tranh, xã hội, giải trí, nghệ thuật.Ngôn ngữ có 2 chức năng cơ bản: chức năng làm phương tiện giao tiếp và chức năng làm công cụ tư duy. Như vậy, có thể hiểu kỹ năng ngôn ngữ là khả năng của một người có thể lựa chọn hệ thống những âm, từ và những quy tắc kết hợp chúng để làm phương tiện giao tiếp với nhau. Kỹ năng này là sự kết hợp của nhiều khả năng và kỹ thuật mà một cá nhân sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp và hiểu được mọi mặt của lời nói, ngôn ngữ, bao gồm: Chú ý và lắng nghe; Hiểu biết; Ngôn ngữ biểu cảm.
Dạy học phát triển kỹ năng ngôn ngữ a) Các loại kĩ năng ngôn ngữ trong dạy học Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đưa ra những vấn đề về kỹ năng ngôn ngữ tiếng Việt. Năng lực ngôn ngữ của học sinh được thể hiện chủ yếu ở bốn dạng hoạt động, tương ứng với đó là bốn kỹ năng: đọc, viết, nói, nghe. 11 - Kỹ năng đọc “Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm) [24, tr.“Đọc là hoạt động tiếp nhận thông tin bằng chữ viết, gồm hai hình thức đọc thành tiếng và đọc thầm. Trình độ đọc của học sinh được quy định căn cứ vào các mặt quan hệ mật thiết dưới đây: Kỹ năng đọc thành tiếng, đọc thầm, khả năng thông hiểu văn bản đọc” [2, tr.
Hoạt động Đọc là hoạt động có ý nghĩa quan trọng của môn Tiếng Việt ở Tiểu học, đọc trở thành đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người đi học. Đọc giúp trẻ giao tiếp và học tập, tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập. - Kỹ năng viết “Kỹ năng viết bao gồm các kỹ năng viết chữ, kỹ năng viết đúng chính tả, từ và câu, kỹ năng viết các bài văn theo các đề tài và thể loại khác nhau” [2, tr. Ngôn ngữ viết không những cần có yêu cầu như đã nói ở trên để thể hiện trong các giáo án, đặc biệt là các câu hỏi, yêu cầu học sinh hoạt động sao cho rõ ràng, hướng đích và đơn trị,… mà còn cần có yêu cầu khả năng lựa chọn từ ngữ để viết tóm tắt những nội dung giảng bài lên bảng, tránh việc viết quá nhiều trên bảng.
Viết là một công cụ tốt để giao tiếp hiệu quả, muốn rèn luyện kỹ năng viết tốt cần phải luyện tập. - Kỹ năng nói Ngôn ngữ nói là phương tiện để mã hoá các thông tin (những suy nghĩ, tri thức…) trong đầu con người (giáo viên dạy học, người học hoạt động chẳng hạn) khi chuyển tải ra ngoài bằng lời (giao tiếp, truyền đạt). Trong dạy học, những thông tin từ giáo viên sẽ giúp cho học sinh hiểu đúng nội dung 12 khoa học. Ngoài tính chính xác về từ ngữ, ngôn ngữ nói của giáo viên còn cần đạt đến tính nghệ thuật về mặt ngữ âm, cấu trúc câu sao cho lời nói được biểu đạt ngắn gọn, trong sáng, súc tích, giàu hình ảnh (kể cả tình cảm), dễ hiểu và mang tính thuyết phục cao.
Sử dụng đúng và phù hợp các tính chất vật lý của lời nói như cường độ, cao độ, tốc độ nói cũng là một nghệ thuật nói. “Kỹ năng nói đòi hỏi phải sử dụng các phương tiện ngôn ngữ (từ ngữ, câu, đoạn, ngữ điệu) và các phương tiện phụ trợ khác (nét mặt, cử chỉ, điệu bộ…). Khi rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh, cần rèn luyện các dạng nói theo một đề tài, trả lời câu hỏi theo các thể văn khác nhau và tham gia vào đối thoại, thảo luận” [2, tr. - Kỹ năng nghe Nghe được chia thành hai loại: “Nghe trong hội thoại (mang tính chủ động, vừa được nghe, vừa được nói) và nghe đơn thoại (mang tính bị động, chỉ được nghe)” [28, tr.
Nghe trong hội thoại là hoạt động nghe với sự hiện diện trực tiếp của những người tham gia hội thoại trong điểm không gian hẹp. Nghe trong đơn thoại: Nghe trong đơn thoại, không có sự chuyển đổi vai. Nội dung của đơn thoại do người nói quy định, người nghe không tham dự trực tiếp vào việc xác lập nội dung nói. b) Mối quan hệ giữa các kỹ năng “Môn Tiếng Việt dạy ở trường tiểu học nhằm trang bị cho học sinh một công cụ giao tiếp, phát triển tư duy và tạo cơ sở cho việc học tập các môn học khác.
Trong bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết chúng ta không thể quá coi trọng kỹ năng này mà coi nhẹ kỹ năng khác” [27, tr. Bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết đều có vai trò quan trọng như nhau, chúng luôn hỗ trợ, bổ sung và có mối quan hệ mật thiết với nhau.“Nghe, nói, đọc, viết là những hình thức khác nhau trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. + Đọc, viết là hoạt động giao tiếp bằng chữ viết. 13 + Nghe, nói là hoạt động giao tiếp bằng âm thanh.
+ Nghe, đọc là hoạt động tiếp nhận lời nói. + Nói viết là hoạt động tạo lập lời nói. Chính vì những đặc điểm này mà trong dạy học tiếng nói chung và tiếng Việt nói riêng, chúng ta không chỉ rèn cho học sinh kỹ năng viết mà còn rèn cả kỹ năng nói, không chỉ rèn kỹ năng đọc mà còn cần cả kỹ năng nghe cho học sinh” [14, tr. Nếu nghe - nói tốt thì tiếp thu kiến thức các môn học cũng tốt hơn, tư duy phát triển nhanh hơn và kỹ năng đọc - viết cũng tốt hơn.
“Một học sinh có khả năng nghe nói tốt thì việc tiếp thu kiến thức các môn học sẽ tốt hơn, tư duy phát triển nhanh hơn dẫn đến kĩ năng đọc, viết cũng tốt hơn” [27, tr. Vì thế theo nguyên tắc giao tiếp người ta thường đồng thời rèn luyện cả bốn kỹ năng đọc, viết, nói, nghe. Kỹ năng nói và vấn đề dạy học, phát triển kỹ năng nói cho học sinh 1. Vai trò của kỹ năng nói đối với học sinh a) Kỹ năng nói với sự hình thành và phát triển nhân cách Trong cuộc sống, các kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ, trong đó có kỹ năng nói đóng vai trò quan trọng, giúp cá nhân tạo dựng được chỗ đứng trong xã hội.
Đối với lứa tuổi học sinh đang trong giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách thì kỹ năng nói đóng vai trò vô cùng quan trọng, vì nhờ có kỹ năng nói mà các em có thể tự tin giao tiếp, cũng như tham gia vào hoạt động giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội. b) Kỹ năng nói là phương tiện giúp học sinh lĩnh hội tri thức Kỹ năng nói chính là một trong bốn kỹ năng trong giao tiếp, là điều kiện tiên quyết để hình thành và phát triển ngôn ngữ của học sinh. Trong quá trình dạy học, thông qua giao tiếp bằng lời nói, giáo viên truyền thụ kiến thức, những kinh nghiệm của xã hội, bản thân, giúp các em hiểu và vận dụng được các tri thức đó vào trong hoạt động học và trong cuộc sống thường ngày của 14 các em. Cũng nhờ có ngôn ngữ nói mà giáo viên biết được năng lực mọi mặt của học sinh để có phương pháp dạy học hiệu quả.
c) Kỹ năng nói tạo nên hệ giá trị sống tích cực của học sinh Học sinh tiểu học là lứa tuổi đang hình thành và phát triển cả về mặt sinh lý, tâm lý. Chính vì vậy, hình thành phát triển nhân cách học sinh tiểu học có tính chất nền tảng cho sự phát triển nhân cách. Việc rèn kỹ năng nói cho học sinh tiểu học giữ vai trò rất to lớn trong việc bắt đầu tạo nên hệ giá trị sống cho các em, giúp các em thể hiện được giá trị của bản thân vào cuộc sống. Bên cạnh đó, việc giáo dục kỹ năng nói còn góp phần xây dựng và tạo nên nét văn hóa trong nhà trường, đó là văn hóa ứng xử và văn hóa giao tiếp.
d) Kỹ năng nói giúp học sinh tạo lập các mối quan hệ tốt đẹp trong cuộc sống Đối với học sinh tiểu học, giao tiếp giúp cho các em trao đổi thông tin trong học tập, chia sẻ các vấn đề trong cuộc sống. Nhờ có giao tiếp, học sinh biết cách bày tỏ thái độ và quan điểm của mình trong quan hệ gia đình, nhà trường và xã hội. Vì vậy, chúng ta cần hướng dẫn các em biết - hiểu - hành động và cộng tác trong quan hệ giao tiếp với người khác. Mục đích, yêu cầu rèn kỹ năng nói cho học sinh a) Mục đích Rèn kỹ năng nói giúp học sinh có thói quen nói trong những môi trường giao tiếp khác nhau.
Nó được thực hiện một cách hệ thống theo những hoạt động nhất định, gắn với những vấn đề quen thuộc trong cuộc sống, đảm bảo những yêu cầu cơ bản về ngôn ngữ và phi ngôn ngữ (lời, liên kết, hình thức lời nói, quy tắc hội thoại, cử chỉ, nét mặt, âm lượng, sức hấp dẫn. b) Yêu cầu rèn kỹ năng nói 15 Yêu cầu quan trọng nhất khi rèn kỹ năng nói là giáo viên cần chú ý đến chuẩn mực ngữ âm tiếng Việt. Để học sinh nói chuẩn ngữ âm, giáo viên cần phải rèn cho học sinh có những khả năng sau: - Rèn luyện khả năng nghe lời nói (rèn luyện thính giác ngôn ngữ). + Luyện cho học sinh khả năng nghe được các âm vị và sớm phân biệt chúng (“giả” khác “trả”, “lanh” khác “nhanh”, “lanh” khác “lảnh”…).
+ Luyện cho học sinh tri giác được tính biểu cảm của ngôn ngữ (sự âu yếm, giận dữ, sự du dương của một bài hát ru…).