CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CÁ NHÂN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tín dụng cá nhân tại các ngân hàng thương mại 1. Khái niệm tín dụng cá nhân Để định nghĩa rõ ràng về tín dụng cá nhân, trước hết cần hiểu rõ về khái niệm tín dụng ngân hàng. Tín dụng ngân hàng Có nhiều định nghĩa về tín dụng ngân hàng, có thể hiểu tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa ngân hàng ( là TCTD) với bên đi vay (là các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán.
Theo khoản 14, điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.” (Quốc hội 2010, tr.52) Khái quát lại thì tín dụng ngân hàng bao gồm ba nội dung chính: - Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng; - Sự chuyển nhượng có thời hạn; - Sự chuyển nhượng kèm theo chi phí và rủi ro. Bản chất của tín dụng ngân hàng là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa người cho vay (Ngân hàng) và người đi vay (Các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế). Qua đó vốn được vận động từ Ngân hàng sang người đi vay trên nguyên tắc có hoàn trả để đáp ứng cho các nhu cầu khác nhau trong nền kinh tế xã hội. Tín dụng cá nhân 7 Hiện nay ở nước ta vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về tín dụng cá nhân.
Trong Khoản 14 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nêu trên các loại hình cấp tín dụng được quy định chung, bao hàm cả tín dụng doanh nghiệp và tín dụng cá nhân (hay tín dụng bán buôn và tín dụng bán lẻ). Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ Châu Á – AIT, dịch vụ ngân hàng bán lẻ là cung cứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh. Theo định nghĩa trên thì tín dụng cá nhân (TDCN) hay tín dụng bán lẻ (TDBL) được hiểu là hình thức cấp tín dụng trực tiếp tới từng khách hàng cá nhân riêng lẻ và các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua các mạng lưới chi nhánh. Hay từ định nghĩa “Tín dụng ngân hàng” nêu trên, cùng việc xác định đối tượng khách hàng cá nhân bao gồm cá nhân và hộ gia đình có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cá thể, có thể hiểu tín dụng cá nhân là hình thức tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng cá nhân hoặc hộ gia đình sử dụng trong một thời hạn nhất định phải hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích phục vụ đời sống hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể.
Ngoài ra, trong Giáo trình Tín dụng ngân hàng của GS. Nguyễn Văn Tiến và TS. Nguyễn Thị Lan, dựa trên chủ thể vay vốn mà tín dụng ngân hàng được phân loại thành tín dụng doanh nghiệp (tín dụng bán buôn); tín dụng cá nhân, hộ gia đình (tín dụng bán lẻ) và tín dụng cho các tổ chức tài chính. Trong đó, tín dụng cá nhân, hộ gia đình được hiểu là những khoản tín dụng cho mục đích tiêu dùng hoặc kinh doanh hộ gia đình của các cá nhân.
(Nguyễn Văn Tiến – Nguyễn Thị Lan 2014, tr.28) Kết hợp các quan điểm trên có thể đưa ra khái niệm tín dụng cá nhân là hình thức cung cấp trực tiếp các sản phẩm tín dụng, bảo lãnh có quy mô nhỏ cho các khách hàng là cá nhân, hộ gia đình với mục đích phục vụ đời sống hoặc phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh cá thể. Đặc điểm của tín dụng cá nhân Thứ nhất, quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng vay lớn. So với việc cho vay sản xuất kinh doanh, giá trị các khoản cho vay cá nhân không lớn. Điều này một phần do giá trị hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng ở mức vừa phải.
Mặt khác, đa số các khách hàng vay vốn đã có sự tích luỹ từ trước đối với các tài sản có giá trị lớn, họ chỉ tìm đến ngân hàng với mục đích hỗ trợ cho hoạt động tiêu dùng cá nhân. Tuy quy mô khoản vay này là nhỏ nhưng tổng quy mô cho vay của ngân hàng lại rất lớn, do số lượng khách hàng có nhu cầu vay vốn tín dụng cá nhân lớn. Thứ hai, khách hàng cá nhân thường ít “nhạy cảm” với lãi suất. Khách hàng cá nhân thường chỉ quan tâm đến khoản tiền phải trả hàng tháng hơn là mức lãi suất ghi trong hợp đồng.
Do đó, khác với hầu hết các khoản cho vay kinh doanh lãi suất được điều chỉnh theo thị trường, lãi suất tín dụng cá nhân thường được ấn định tại một mức nhất định. Đối với các khoản cho vay ngắn hạn, lãi suất được ấn định ngay từ đầu và không thay đổi cho đến hết thời hạn vay. Đối với những khoản vay trung và dài hạn, lãi suất cho vay thường được điều chỉnh mỗi năm một lần dựa trên cơ sở lãi suất huy động, cộng với một biên độ nhất định tuỳ theo từng ngân hàng. Thứ ba, tín dụng cá nhân có chi phí lớn nhất trong danh mục tín dụng của ngân hàng.
Bởi phát triển dịch vụ tín dụng cá nhân cần một sự đầu tư lớn vào mạng lưới, dịch vụ, nhân sự, phần mềm, thiết bị do số lượng các khoản vay rất lớn dù quy mô của mỗi khoản vay thường nhỏ thậm chí không đáng kể. Hơn nữa, việc cập nhật các thông tin cá nhân khó có thể đầy đủ và chính xác. Do vậy, ngân hàng phải tốn nhiều chi phí quản lý, chi phí hoạt động. Thứ tư, tín dụng cá nhân có mức độ rủi ro cao.
Rủi ro trong cho vay đối với khách hàng cá nhân cao hơn cho vay doanh nghiệp. Điều này xuất phát từ 2 nguyên nhân sau: - Rủi ro về lãi suất. Đối với các khoản cho vay kinh doanh, ngân hàng và khách hàng thường có sự thỏa thuận áp dụng mức lãi suất thả nổi, tức là lãi suất được điều chỉnh theo từng kỳ hạn nhất định trong suốt thời hạn cho vay. Vì vậy, 9 nguy cơ rủi ro về lãi suất đối với cho vay kinh doanh sẽ thấp hơn so với cho vay cá nhân.
- Về cho vay khách hàng cá nhân dễ gặp rủi ro đạo đức. Chất lượng các thông tin tài chính của các khách hàng vay thường không cao, cụ thể, thông tin của các khách hàng cá nhân và hộ gia đình khó xác định, khiến việc thẩm định khách hàng khó chính xác. Khả năng hoàn trả vốn vay đối với các khoản cho vay tiêu dùng phụ thuộc vào thu nhập của người đi vay. Tuy nhiên, đối với những khách hàng cá nhân có thể do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan mà họ không thể thực hiện trả nợ hoặc trì hoãn trả nợ, từ đó gây ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay của ngân hàng.
Nhân tố chủ quan có thể là tình trạng tài chính của người đi vay, công việc làm ăn không tốt … ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực tài chính của khách hàng, từ đó giảm khả năng thực hiện trả nợ của khách hàng. Các nhân tố khách quan như hạn hán, mất mùa, sự suy thoái của nền kinh tế dẫn đến khả năng mất việc cao… cũng là những nguy cơ ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả của khách hàng. Thứ năm, lợi nhuận từ tín dụng cá nhân lớn. Lãi suất của các khoản tín dụng cá nhân phần lớn đều cao hơn các khoản tín dụng khác của ngân hàng thương mại (NHTM).
Điều này xuất phát từ các khoản tín dụng cá nhân có chi phí cao và rủi ro cao nhất trong các loại cho vay của NHTM. Mức lợi nhuận từ mỗi khoản tín dụng cá nhân cao, số lượng lớn, vì vậy toàn bộ lợi nhuận thu về từ hoạt động này là đáng kể trong tổng thu nhập của NHTM. Vai trò của tín dụng cá nhân 1. Đối với ngân hàng thương mại Phát triển tín dụng cá nhân là xu hướng chung của các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới, đảm bảo cho các ngân hàng đa dạng hóa kinh doanh, mở rộng các phân khúc thị trường tiềm năng, phân tán rủi ro, cung ứng dịch vụ chất lượng cao cho khách hàng.
Là một trong hai bộ phận của nghiệp vụ cho vay bên cạnh cho vay bán buôn, cho vay bán lẻ hay tín dụng cá nhân đóng góp lớn vào tăng trưởng tín dụng, mang lại hiệu quả kinh doanh cao cho các ngân hàng. Dựa vào sự tăng nhanh tốc độ cho 10 vay bán lẻ, dư nợ được đẩy nhanh, đồng thời thu nhập của ngân hàng tăng do cho vay bán lẻ có lãi suất cao hơn. Tín dụng cá nhân phân tán rủi ro cho ngân hàng. Thay vì chỉ tập trung vào các khách hàng doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn lớn, phát triển tín dụng cá nhân giúp ngân hàng phân tán rủi ro, vì với lượng khách hàng cá nhân đông, số tiền mỗi khoản vay nhỏ thì khi có một hay một vài khách hàng không có khả năng trả nợ thì tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng ít bị ảnh hưởng hơn so với rủi ro do các khách hàng doanh nghiệp lớn mang lại.
Tín dụng cá nhân cũng có thể được coi như một kênh truyền thông thương hiệu của ngân hàng. Do thị trường bán lẻ rộng lớn, thông qua tín dụng cá nhân, ngoài cấp tín dụng cho khách hàng, ngân hàng còn có thêm cơ hội bán chéo sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ, tăng khả năng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, từ đó tạo dấu ấn khác biệt, ghi đậm hình ảnh ngân hàng trong tâm trí khách hàng. Đối với nền kinh tế Tín dụng cá nhân có vai trò rất quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế - xã hội.