phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo chính, luận văn gồm hai chương với 4 tiết. NỘI DUNG CHƢƠNG 1 NHÂN TỐ CON NGƢỜI VÀ BIỂU HIỆN CỦA NÓ TRONG THỂ THAO THÀNH TÍCH CAO 1. Khái niệm nhân tố con ngƣời 1. Về vấn đề con người Trong ý nghĩa chung nhất, con người trước hết là đối tượng nghiên cứu của 11 z triết học.
Vì thế, ngay từ khi triết học ra đời, vấn đề con người đã được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu. Con người là gì? Từ thời cổ đại đến nay đã có nhiều quan điểm khác nhau bàn về con người. Tùy thuộc vào thế giới quan và phương pháp luận khác nhau mà có những quan điểm duy vật hay duy tâm, biện chứng hay siêu hình về con người, về bản chất con người và vai trò của nó trong tiến trình lịch sử. Vào thời cổ đại, do hạn chế về thế giới quan, về điều kiện lịch sử, do trình độ sản xuất thấp kém, khoa học chưa phát triển, nên quan niệm về con người của các nhà triết học còn phiến diện, mang nặng tính thần bí, siêu hình.
Chủ nghĩa duy tâm thì nhấn mạnh mặt tinh thần, mặt tư tưởng của con người; còn chủ nghĩa duy vật (chất phác, ngây thơ và tự phát) thì hướng tìm cái bản nguyên đầu tiên của con người, thường tuyệt đối hóa một mặt, một yếu tố vật chất nào đó. Sang thời kỳ phong kiến, khi triết học trở thành "tôi tớ" của thần học, các quan niệm về con người trở nên sai lệch hơn, lúc này con người được hiểu như là sự sáng tạo của Thượng đế, của Đức chúa trời tối cao, do đó không có khả năng làm chủ được cuộc sống của mình. Thời kỳ Phục Hưng và Khai sáng được coi là một thời kỳ mới trong việc khám phá bản chất con người. Lúc này phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập và dần dần thắng thế ở Châu Âu, vai trò của con người trong xã hội được đề cao, con người cá nhân (cái tôi như một chủ thể) bắt đầu được khẳng định.
Tuy nhiên, do ảnh hưởng của chủ nghĩa duy vật siêu hình, các quan niệm về con người còn hạn hẹp, thiếu tính hệ thống. Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những di sản lý luận trước đó và dựa vào những thành tựu của khoa học tự nhiên, triết học mác-xít khẳng định rằng, giới tự nhiên là cái có trước, con người là sản phẩm của quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên, con người bước vào lịch sử với những điều kiện tồn tại không có sẵn như động vật, con người phải lao động để sáng tạo ra những điều kiện phục vụ cho nhu cầu sống của bản thân mình, lao động là cơ sở tạo nên các mối quan hệ xã hội giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên.Mác là người đầu tiên phát hiện ra vai trò 12 z của các mối quan hệ xã hội trong việc tạo nên bản chất con người. Trong Luận cương về Feuerbach, Mác viết: "Bản chất của con người không phải là một cái trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội" [8, tr.
Với quan niệm đó, C. Mác chỉ ra rằng, bản chất con người không phải là trừu tượng mà là hiện thực, không phải bất biến mà có tính lịch sử. Con người là một thực thể thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội, nhưng yếu tố xã hội mới là bản chất đích thực của con người. Con người luôn sống trong một thời đại với những mối quan hệ xã hội nhất định.
Con người khác con vật ở chỗ, trong con người, ý thức thay thế bản năng, hoặc bản năng của con người là bản năng đã được ý thức. Con người không thu mình, thụ động trước hoàn cảnh, mà luôn luôn hoạt động có mục đích. Hoạt động bản chất nhất của con người là lao động. Bằng lao động con người đã tạo ra các sản phẩm vật chất, tinh thần cho cuộc sống của mình.
Thông qua hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình, từ đó làm nên lịch sử của cả xã hội loài người. Điều đó cho thấy bản chất con người chỉ có thể hình thành trong hoạt động thực tiễn sinh động với mục đích cải tạo tự nhiên và xã hội. Đưa quan điểm thực tiễn vào nghiên cứu con người, lần đầu tiên trong lịch sử, triết học mác-xít đã không xem xét vấn đề con người một cách tư biện, mà dựa trên cơ sở của đời sống thực tiễn - xã hội. Đứng trên lập trường của triết học mác-xít, các nhà lý luận Việt Nam coi con người là một hệ thống bao gồm các yếu tố: sức khỏe, tri thức, năng lực thực tiễn, đạo đức và các phẩm chất khác.
Nói cách khác, đó là một chỉnh thể thống nhất giữa thể lực, tâm lực, trí lực được thể hiện trong hoạt động thực tiễn. Các yếu tố này có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ với nhau, bổ sung và ảnh hưởng lẫn nhau, quy định lẫn nhau. Nhận thức rõ con người là sự thống nhất giữa yếu tố sinh vật và yếu tố xã hội, Hồ Chí Minh luôn nhìn nhận con người trong sự thống nhất giữa hai mặt đối lập. Chẳng hạn, theo Hồ Chí Minh, ai cũng có chỗ hay và chỗ dở, ai cũng có tính tốt và 13 z tính xấu, có thiện, có ác, có ưu điểm, có khuyết điểm; quá trình cải tạo bản thân mỗi con người nhằm làm cho phần xấu mất đi và phần tốt nảy nở như hoa cỏ giữa mùa xuân.
Đây là một quan điểm khoa học, sáng tạo, có tính biện chứng rất sâu sắc; quan điểm ấy là cơ sở để Người có những chỉ đạo hết sức sáng suốt trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta. Trong thực tế, Hồ Chí Minh đã quy tụ được xung quanh mình những con người có đức, có tài, luôn đem hết sức mình cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tóm lại, trong triết học mác xít, con người được hiểu như là một chỉnh thể thống nhất về thể chất, trí tuệ, tâm hồn và hoạt động có tính lịch sử - xã hội, là chủ thể sáng tạo và hưởng thụ các giá trị vật chất, tinh thần trong xã hội. Con người trong triết học mác-xít là những con người với những mối quan hệ gia đình, cộng đồng, giai cấp, xã hội, nhân loại; vừa là con người cá thể, vừa là con người nói chung.
Con người, trước hết là những người lao động, là nhân dân cần lao luôn gắn liền với hoạt động thực tiễn đấu tranh cách mạng, cải tạo xã hội, là những công dân với những nhu cầu, khát vọng, những truyền thống lịch sử - văn hóa có khả năng làm chủ xã hội và làm chủ chính bản thân mình. Con người là một chỉnh thể sinh học - xã hội, điều khẳng định đó cho đến nay có lẽ không gây nên sự tranh luận một cách mạnh mẽ trong giới khoa học, hay nói một cách khác, không còn trở thành tâm điểm của sự tranh luận quyết liệt giữa các học giả khi nghiên cứu về con người. Song, các vấn đề sau đây vẫn đang được đặt ra: Thế nào là yếu tố sinh học ? Những yếu tố nào nào được coi là yếu tố xã hội trong con người ? Sự tác động lẫn nhau giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội được thực hiện theo cơ chế nào ?. Những vấn đề này cho đến nay vẫn là tâm điểm chú ý của các nhà khoa học trong và ngoài nước.
Khái niệm “Yếu tố sinh học và yếu tố xã hội trong con người” Khi bàn đến vai trò, ý nghĩa của nhân tố con người trong TTTTC, cũng như khi đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy một cách triệt để nhân tố con người trong 14 z công tác tuyển chọn, huấn luyện, thi đấu của thể thao đỉnh cao, chúng ta không thể không xem xét một cách nghiêm túc khái niệm “Yếu tố sinh học và yếu tố xã hội trong con người”. Có thể nói, cho đến nay không phải không có ý kiến cho rằng, tài năng thể thao là những năng lực, những khả năng bẩm sinh; ý kiến này là cơ sở lý luận cho sự tuyệt đối hoá yếu tố sinh học trong công tác phát hiện, tuyển chọn, bồi dưỡng, đào tạo các tài năng thể thao. Bên cạnh đó, lại có ý kiến cho rằng, trong thời đại của nền kinh tế trí thức thì khoa học công nghệ quyết định thành tích thể thao; ý kiến này là cơ sở lý luận của sự coi thường và không đánh giá đúng về vai trò, ý nghĩa của yếu tố sinh học trong công tác tuyển chọn và đào tạo các VĐV đỉnh cao. Cả hai ý kiến trên đều hết sức sai lầm.
Vì vậy, theo chúng tôi, cần phải xác định một cách có hệ thống và chính xác khái niệm yếu tố sinh học và yếu tố xã hội trong con người nói chung. Con người là một chỉnh thể sinh học - xã hội. Song, để có thể hiểu một cách thấu đáo mối quan hệ, sự tác động lẫn nhau giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội trong con người thì việc đưa ra một khái niệm tương đối rõ ràng về yếu tố sinh học và yếu tố xã hội trong con người là vô cùng cần thiết. Nói một cách khác, để có thể hiểu con người như một chỉnh thể sinh học - xã hội thống nhất, trước hết phải trả lời câu hỏi: Thế nào là yếu tố sinh học? Và thế nào là yếu tố xã hội? Các nhà triết học Phương Đông cổ đại đã nhận thức khá sâu sắc về những yếu tố tự nhiên ngự trị trong mỗi con người.
Họ đã đề cập đến mặt sinh học chi phối hành vi của con người. Theo họ, đó là những hành vi bản năng (lục dục, thất tình) có ở tất cả những con người trần thế. Trong sự chế ước lẫn nhau giữa một bên là hành vi mang tính bản năng, một bên là hành vi mang tính tự ý thức của con người (yếu tố xã hội), thì đạo làm người đã hiện diện hai yếu tố trong chỉnh thể người : yếu tố sinh học và yếu tố xã hội. Các nhà triết học cổ đại Phương Tây và Phương Đông nói chung đều không đưa ra định nghĩa về yếu tố sinh học và yếu tố xã hội trong con người, mà chỉ đề cập 15 z một cách chung dưới góc độ bản thể luận và nhận thức luận.