CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÂN LOẠI HO 1.1 Bài toán phát hiện và phân loại ho Như chúng ta đã, biết đối với hiện trạng như hiện nay trên thế giới tình trạng đại dịch COVID-19 truyền nhiễm theo cấp số nhân vô cùng nghiêm trọng tăng tới hàng trăm nghìn ca nhiễm và hàng nghìn ca tử vong mỗi này. Dựa vào biểu đồ tại hình 1.1, ta cũng có thể thấy được dịch bệnh này chưa hề có dấu hiệu dừng lại. Theo dữ liệu thống kê hiện tại: Hình 1.1: Biểu đồ dịch bệnh Covid – 19 năm 2020 (nguồn: google) Và đó chỉ là một trong những bệnh dịch gần đây nhất đang hoành hành trên thế giới tại thời điểm hiện tại. Trong suốt cả quá trình phát triển của loài người đã có những dịch bệnh kinh hoàng hơn như vậy.
Bệnh dịch hạch được biết tới từ những năm 541 sau công nguyên từng khiến cho các đế chế Hy Lạp chao đảo, cũng căn bệnh này đã khiến cho cả Châu Âu chao đảo từ 1347 đến 1351 số người chết lên tới 25 triệu người. Bệnh đậu mùa khi thực dân châu Âu xâm chiếm châu Mỹ vào thế kỷ 17 và mang theo cả bệnh đậu mùa (do virus variola gây ra) tới lục địa này. Bệnh đậu mùa đã cướp đi sinh mạng của khoảng 20 triệu người, gần 90% dân số ở châu Mỹ khi đó. Hay đại dịch tả đầu tiên bắt đầu ở Jessore, Ấn Độ (1817-1823) và giết chết hàng triệu người dân Ấn Độ khi ấy.
Sau đó, dịch tả bùng phát thêm nhiều đợt mới lan nhanh khắp các châu lục trong thời gian ngắn. Trong số đó, không thể không nhắc tới các đại dịch cúm đã liên tục hoành hành trong loài người như dịch cúm Tây Ban Nha (1918), dịch cúm Châu Á (1957),… Các dịch cúm liên tục thay đổi và thích nghi sau 2 mỗi lần loại người có thể phòng chống và chữa trị được, như đại dịch COVID-19 cũng là một bản sao sự biển đổi từ chủng của đại dịch SARS năm 2003. Tuy nhiên, mỗi dịch bệnh xảy ra đều có các triệu chứng liên quan để chúng ta có thể dễ dàng phòng ngừa được, tuy nhiên do sự chủ quan và thiếu hiểu biết đã khiến cho loài người rơi vào tình cảnh khó khăn. Phần lớn các căn bệnh liên quan tới được hô hấp hay dịch cúm đếu có các triệu chứng ho, chẳng hạn như đối với dịch bệnh COVID-19, ngoài các triệu chứng cụ thể ra kèm với đó còn có dạng ho riêng.
Tùy theo cơ địa mỗi người mà các triệu chứng dạng ho có thể là rõ hoặc không rõ nhưng vẫn có cùng dạng ho. Mỗi dạng ho, khi đi kèm với những triệu chứng khác nhau có thể là những căn bệnh khác nhau, đôi khi để cá nhân người bệnh có thể tự nhận biết hay phân loại được dạng ho của mình để có thể phòng ngừa cũng là một điều khó khăn khi không có các lời khuyên từ các bác sĩ chuyên ngành. Vì vậy, ứng dụng các kỹ thuật công nghệ để có thể phát hiện và phòng ngừa là một điều cấp thiết. Với sự phát triển của ngành Công nghệ thông tin, chúng ta đã ứng dụng được vào các ngành nghề khác để có thể hoạt động dễ dàng hơn.
Ngoài những ngành nghề khác, việc áp dụng công nghệ thông tin vào ngành y học là vô cùng cần thiết. Ngoài những công việc áp dụng công nghệ thông tin cơ bản, chúng ta cũng đã có nhiều thuật toán học sâu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ con người trong ngành y học, dễ dàng hơn trong việc chuẩn đoán tình trạng của bệnh nhân và kịp thời phòng ngừa. Giả sử như bằng các thuật toán trí tuệ nhân tạo để kiểm tra và phân loại nhịp tim thai nhi [16], sử dụng để dự đoán ngừng tim đột ngột dựa trên các thông tin thay đổi của nhịp tim [17] hay các thuật toán học máy để kiểm tra tâm lý con người như kiểm tra các khái niệm về tự tử và cảm xúc của thanh thiếu niên để ngăn chặn việc tự tử [18],. Nhận thấy được khả năng khi áp dụng máy học cho các vấn đề về y học cùng với thực trạng hiện nay đối với các dịch bệnh cúm mùa đặc biệt là đại dịch COVID-19, tôi muốn áp dụng các thuật toán học máy để có thể thực hiện bài toán phát hiện và phân loại các dạng ho trên các thiết bị IoT, vậy tại sao là các thiết bị IoT? Đối với các thiết bị IoT thì gần như mọi người đều đang sử dụng chúng chẳng hạn như điện thoại thông 3 minh Smartphone, thiết bị đeo tay điện tử… Để tiếp cận hệ thống này cho những người sử dụng phổ thông là vô cùng đơn giản, không cần phải có các thiết bị điện tử quá đắt tiền cũng như gây khó chịu cho người sử dụng, không những thế người sử dụng có thể tiếp cận mọi lúc mọi nơi.
Việc thực hiện bài toán này chính là tiền đề để tạo ra hệ thống tối ưu nhất và có thể góp phần giúp người sử dụng nhanh chóng biết được tình trạng của bản thân và mau chóng chữa trị, phòng ngừa tránh lây lan ra cộng đồng người xum quanh mình. Xác suất nào đó có thể giảm thiểu số người nhiễm bệnh và người tử vong nếu như có những đại dịch cúm trong tương lai.2 Một số nghiên cứu liên quan Phát hiện, phân loại ho và đánh giá mức độ nghiêm trọng của triệu chứng tự động đã thu hút các nhà nghiên cứu, chuyên gia y tế và bác sỹ trong nhiều năm. Phần lớn người đến chưa trị, hay cần lời khuyên từ bác sỹ đều có chung triệu chứng là ho [3]. Người ta có thể phát hiện âm thanh ho dựa trên việc lắp đặt hàng loạt các cảm biến âm thanh [4], đối với [6], [7], [8], thì họ chỉ cần sử dụng duy nhất một micro gắn lên người có triệu chứng nhiễm bệnh [2] hoặc sử dụng hệ thống mic thu âm của thiết bị di động [1], [11].
Trước đây, các hệ thống cảm biến được lắp đặt theo thứ tự cụ thể trong một môi trường đa chiều để có thể cảm nhận được biến động từ môi trường xum quanh và cảnh báo nguy hiểm [8], trong khi đó các thiết bị cảm biến được đeo trên người thường có tác dụng để có thể nhận biết hành vi của người đeo, cảm biến các tác động, báo hiệu khi người sử dụng bị ngã [9] hoặc là các hệ thống cảm biến này có thể nhận diện được các dấu hiệu sự sống của còn người chẳng hạn như nhịp tim, hơi thở, huyết áp, nồng độ Oxi trong máu để báo hiệu cho người sử dụng khi tới ngưỡng nguy hiểm liên quan tới tính mạng. Tất nhiên, với việc sử dụng nhiều các cảm biến được cài đặt trong môi trường có thể mất khá nhiều kinh phí cũng như khả năng kết nối bởi sự hạn chế của phạm vi cảm biến chỉ có 1 khoảng nhất định (ví dụ như tầm tín hiệu của cảm biến chỉ ở trong phòng hoặc trong nhà). Đối với các thiết bị điện thoại di động hay là các thiết bị IoT có tích hợp cảm biến thì có thể cho phép người dùng phát hiện, phân loại ho và mức độ nghiêm trọng của triệu chứng mọi nơi, mọi lúc. 4 Các cảm biến hệ thống âm thanh được sử dụng để tạo ra các máy phát hiện ho là tương đối phổ biến, tính tới thời điểm hiện tạo các thiết bị đó có thể nhận dạng được âm thanh ho chuẩn tới 95%.
Một số nhà khoa học đã áp dụng phương pháp phát hiện âm thanh ho dựa trên mạng nơ-ron nhân tạo, được tạo ra bởi các vec tơ từ 222 đặc trưng [6], trong khi đó [4] bằng cách đặt các cảm biến ho tại các vị trí trên cơ thể người, so sánh các kết quả và đưa ra kết luận chính việc thay đổi các vị trí đặt máy cũng có thể liên quan tới sự chính xác của máy phát hiện ho, Vizel E. Còn [5] thì đưa ra thông tin về âm thanh ho bằng cách phân tích tổng hợp hai luồng đó là âm thanh được thu từ một chiếc micro được đặt trên ngực và âm thanh được thu từ các cảm biến được cài đặt trong môi trường xum quanh người đeo micro. Tương tự, Zheng, S. [7] CoughLoc phân tích âm thanh ho dựa từ dữ liệu thu được tại mạng cảm biến không dây không xâm nhập, bên cạnh đó CoughLoc cũng phân tích xem tại vị trí thu được các âm thanh ho để tăng độ nhận diện âm thanh chính xác nhất.
[6] nhận dạng âm thanh ho bằng cách sử dụng các cảm biến khác nhau bao gồm cả gia tốc kế EMT 25 C (Siemens); Gia tốc kế PPG 201 (PPG); Micro Sony ECM-T150 kết nối với bộ đầu nối nén khí và so sánh chất lượng chuyển đổi và nhận dạng với các thiết bị thu âm thanh của phổi. Bên cạnh đó, chúng ta còn có cách thu âm thanh ho chỉ bằng chiếc micro đeo trên ngực của người bệnh và phân tích dựa trên chính dữ liệu mà chiếc micro đó thu được. Chẳng hạn, [2] Leicester Cough Monitor đề xuất sử dụng máy ghi âm trên ngực bệnh nhân, kế quả LCM đã được đánh giá nghiêm ngặt, đạt được độ nhạy và độ đặc hiệu tỉ lệ cao 91% trên bộ dự liệu ngoại tuyến của 15 bệnh nhân ho mãn tính và 8 người khỏe mạnh. Một nghiên cứu khác, [8] đã sử dụng phương pháp học sâu áp dụng mô hình Markov ẩn với hơn 800 phút ghi âm và đã phát hiện ra các hiện tượng ho chính xác tới 82% cùng với tỉ lệ lỗi thấp khoảng 7 lần mỗi giờ.
Bên cạnh đó cũng đã có nhiều phương pháp áp dụng học sâu (Deep Learning Machine) vào việc phát hiện và phân loại các dạng ho. Sau đó sử dụng mạng học sâu để phân tích dựa trên hình ảnh quang phổ được chuyển đổi từ âm thanh ho và các âm thanh thông thường. Ưu điểm của việc này là sử dụng Mạng học sâu tích chập (CNN) để áp dụng vào việc nghiên cứu và phát hiện các dạng ho qua hình ảnh, CNN rất dễ huấn luyện và có sẵn rất nhiều phần cứng tài nguyên để hỗ trợ cho việc này. Cùng với đó, áp dụng đồng thời Mạng học sâu hồi quy (RNN) với các nơ-ron chuyên biệt có thể nắm bắt và mô hình hóa các liên kết dài hạn theo trình tự.
Bên cạnh đó, RNN cũng khó bị ảnh hưởng bởi hiện tượng nhiễu trong dữ liệu tuần tự. Tuy nhiên, CNN có một nhược điểm lớn đó là yêu cầu dữ liệu đầu vào phải được cố định và rõ ràng, cùng với đó việc học dựa trên RNN là quá trình huấn luyện máy học vô cùng khó khan và lượng mẫu dữ liệu đầu vào là không hề nhỏ.