chương 1 đã giới thiệu tổng quan về cấu tạo, các loại vòng bi và vai trò của vòng bi trong động cơ ba pha. Tiếp theo, giới thiệu về lỗi vòng bi, nguyên nhân , dấu hiệu và ảnh hưởng của lỗi vòng bi đến động cơ ba pha. Phần cuối của chương đã giới thiệu về các phương pháp tạo lỗi vòng bi trong phòng thí nghiệm. Trong đồ án này, em lựa chọn phương pháp tạo lỗi vòng bi dưới dạng vết nứt bằng máy cắt dây và lựa chọn tạo lỗi ở 2 vị trí trong vòng bi là vòng ngoài và vòng trong với 4 kích thước lần lượt là 0,2mm, 0,6mm, 1mm và 1,5mm.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN XỬ LÝ TÍN HIỆU VÀ HỌC SÂU 2.1 Phân loại một số tín hiệu liên quan đến lỗi vòng bi Để chẩn đoán lỗi của vòng bi trong động cơ điện, ta thường dựa vào việc phân tích các tín hiệu của động cơ trong quá trình động cơ hoạt động. Đông cơ điện khi hoạt đông tạo ra rất nhiều loại tín hiệu khác nhau. Tùy thuộc vào việc lấy tín hiệu nào để phân tích thì ta sẽ lựa chọn các loại cảm biến phù hợp để giám sát quá trình hoạt động của động cơ. Ta sẽ phân loại các phương pháp đo tín hiệu dựa trên dạng tín hiệu cảm biến thu được: - Tín hiệu dòng điện (Current signal): Tín hiệu thu được khi ta lắp đặt cảm biến dòng đo tín hiệu dòng điện của stato.
Khi vòng bi hoạt động trong điều kiện lỗi, các chuyển xuyên tâm của trục động cơ sẽ dẫn đến sự thay đổi nhỏ của roto từ đó sẽ gây ra sự thay đổi thông lượng từ giữa stator và roto. Điện áp gây ra sau đó sẽ gây ra sự thay đổi của dòng stator. Cảm biến dòng có thể lắp đặt ở bên ngoài động cơ, tránh ảnh hưởng đến động cơ trong quá trình hoạt động. Tuy nhiên so với tín hiệu rung và tín hiệu sóng âm, tín hiệu điện chỉ phát hiện việc xuất hiện lỗi trên động cơ chứ không biểu thị rõ được lỗi xuất phát từ vị trí nào của động cơ.
- Tín hiệu rung (Vibration signal) [4]: Là loại tín hiệu được sử dụng rộng rãi nhất trong các loại tín hiệu dùng để kiểm tra trạng thái hoạt động của vòng bi. Tín hiệu này thu được khi ta lắp đặt cảm biến rung trên động cơ để đo sự rung động của vòng bi trong quá trình động cơ hoạt động. Một đông cơ ở trạng thái bình thường sẽ tạo ra độ rung tối thiểu khi hoạt động, bất kì sự cố,lỗi nào xảy ra bên trong các bộ phận của động cơ đều gây ra độ rung lớn hơn. Mỗi một loại lỗi trên từng vị trí của vòng bi lại sinh ra các tần số khác nhau với các biên độ rung khác nhau.
Do đó, dựa vào tín hiệu rung, ta có thể nhận biết được trạng thái làm việc của vòng bi mà không cần phải có những tác động vật lý như mở nắp động cơ,… - Tín hiệu sóng âm (Acoustic Emission signal) [4]: Tín hiệu thu được khi ta lắp cảm biến sóng âm đo tín hiệu sóng âm phát ra từ các vết nứt tại điểm xảy ra lỗi. Phát xạ sóng âm là một sóng đàn hồi thoáng qua được tạo ra được gây ra bởi sự giải phóng năng lượng đột ngột gây ra bởi sự thay đổi cấu trúc trong vật liệu. Cảm biến sóng âm hoạt động dựa trên tín hiệu sóng âm được phát ra từ các vết nứt tại thời điểm xảy ra lỗi. Do đó tín hiệu sóng âm có thể phát hiện sớm nhất tình trạng lỗi vòng bi ngay cả khi những lỗi này xảy ra ở dưới bề mặt của vòng bi.
Các loại cảm biến đo sóng âm thường hoạt động ở tần số cao vì thế đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối khi lắp đặt cảm biến và giá thành cao hơn nhiều so với các cảm biến khác.Độ chính xác của việc phát hiện lỗi bằng phương pháp đo sóng âm có thể bị giảm do đồ ồn từ môi trương xung quanh. - Tín hiệu nhiệt (Thermography) [5]: Là một kỹ thuật dùng để chuẩn đoán lỗi 23 không phá hủy dựa trên ảnh nhiệt thu được từ camera hồng ngoại. Đầu dò hồng ngoại hấp thụ năng lượng phát ra từ vật thể và đo nhiệt độ trên bề mặt của vật thể. Khi vòng bi bị hỏng, dẫn đến nhiệt độ tăng lên, qua đó có thể phát hiện được vòng bi đang bị lỗi.
Tuy nhiên phương pháp này chỉ phát hiện được lỗi vòng bi khi có sự thay đổi rõ ràng về nhiệt độ do các vết nứt trên vòng bi đã đạt đến một mức độ hư hỏng nhất định, nhưng trong giai đoạn đầu của lỗi vòng bi, nhiệt độ của động cơ hầu như không bị ảnh hưởng. Các yếu tố bên ngoài như nhiệt độ môi trường, tốc độ, tải chạy của động cơ và thời gian chạy đều có ảnh hưởng rõ rệt nên nhiệt độ của động cơ, do đó làm giảm độ chính xác của phương pháp đo nhiệt trên động cơ. Trên đây là các tín hiệu cảm biến thường được dùng để chẩn đoán lỗi của động cơ. Tùy vào việc chẩn đoán lỗi của thành phần nào ta sẽ lựa chọn tín hiệu phù hợp với yêu cầu bài toán đặt ra.2 Các phương pháp xử lý tín hiệu Tín hiệu cảm biến sau khi thu được sẽ cần qua bước tiền xử lý tín hiệu để lọc các thành phần nhiễu và đưa về dạng dữ liệu mong muốn.
Để phân tích xử lý tín hiệu của vòng bi, người ta sử dụng các phương pháp xử lý trên ba miền làm việc chính là: - Miền thời gian - Miền tần số - Miền thời gian - tần số 2.1 Phương pháp xử lý tín hiệu trong miền thời gian Tín hiệu thu được từ cảm biến hay bộ chuyển đổi thường ở dạng chuỗi thời gian, nên việc xử lý tín hiệu trong miền thời gian là phương pháp giúp tốn ít thời gian và tài nguyên nhất.Tuy nhiên phương pháp xử lý tín hiệu trong miền thời gian có độ chính xác và độ tối ưu không bằng xử lý tín hiệu trong miền tần số. Một vài phương pháp được sử dụng là phương pháp xác định độ lệnh chuẩn (Standard Deviation) và phương pháp xác định giá trị hiệu dụng (Root Mean- Squared Value). Phương pháp xác định độ lệch chuẩn Là phương pháp dùng để phản ánh mức độ phân tán của từng điểm tín hiệu so với giá trị trung bình của tín hiệu đó. Công thức tính độ lệch chuẩn: (1) Trong đó: N: Tổng số điểm lấy mẫu 24 Xi: Dữ liệu tại điểm thứ i : Giá trị trung bình của tín hiệu B.
Phương pháp xác định giá trị hiệu dụng Là phương pháp tính giá trị hiệu dụng của các điểm lấy mẫu. Phương pháp này biểu thị về năng lượng của tín hiệu. (2) Trong đó: N: Tổng số điểm lấy mẫu Xi: Dữ liệu tại điểm thứ i 2.2 Phương pháp xử lý tín hiệu trong miền tần số Ngày nay, để có thể xử lý nhiễu và trích xuất các đặc trưng của tín hiệu thì người ta thường ưu tiên xử lý tín hiệu trong miền tần số. Phương pháp này có thể giúp ta quan sát các phổ tấn số khác nhau của tín hiệu[6].
Biến đổi phổ biến nhất được sử dụng trong miền tần số là biến đổi Fourier. Biến đổi Fourier được sử dụng để chuyển đổi tín hiệu có hình dạng bất kỳ thành tổng số vô hạn của sóng hình sin. Vì việc phân tích các hàm hình sin dễ dàng hơn so với phân tích các hàm có hình dạng chung, phương pháp này rất hữu ích và được sử dụng rộng rãi. Một số phép biến đổi Fourier thường được sử dụng là: - Fourier Intergral (FI): Phép biến đổi Fourier liên tục - Discrete Fourier Transform (DFT): Phép biến đổi Fourier rời rạc - Fast Fourier Transform (FFT): Phép biến đổi Fourier nhanh Hình 2-1: Hình ảnh tín hiệu trong miền tần số và miền thời gian A.
Phép biến đổi Fourier liên tục 25 Thông thường, phép biến đổi Fourier liên tục thường được coi là phép biến đổi Fourier. Phép biến đổi Fourier sẽ khai triển 1 hàm số theo các thành phần trong phổ của nó: (3) Trong đó X(f): Tín hiệu sau khi được biến đổi sang miền tần số x(t): Tín hiệu gốc ở miền thời gian B. Phép biến đổi Fourier rời rạc Phép biến đổi Fourier rời rạc đôi khi còn được gọi là biến đổi Fourier hữu hạn, là một biến đổi Fourier cho các tín hiệu thời gian rời rạc. Đầu vào của biến đổi này là một chuỗi hữu hạn các số thực hoặc số phức, làm biến đổi này là một công cụ lý tưởng để xử lý thông tin trên các máy tính.
Phép biến đổi Fourier nhanh Biến đổi Fourier nhanh FFT thực chất là các thuật toán để thực hiện phép biến đổi Fourier rời rạc DFT nhằm phân tích tín hiệu rời rạc theo thời gian trong miền tần số hiệu quả nhờ sự cải thiện rất đáng kể về tốc độ và tính toán đơn giản[7]. Thuật toán FFT phải tính tất cả N giá trị của DFT sao cho có hiệu quả cao nhất. Có một vài thuật toán để thực hiện FFT, tuy nhiên thuật toán Cooley- Tukey là thuật toán được sử dụng phổ biến nhất. Thuật giải Cooley-Tukey chỉ áp dụng cho trường hợp N = 2s, s ∈ N.
Vì N chẵn, nên tổng (4) có thể phân tích thành hai tổng: (5) 2 2πi/(N/2) Với W = e 2.2πi/N = e , nên ta thấy Fe(k) và Fo(k) lần lượt là biến đổi Fourier của hai dãy: {f(2m) | m = 0, 1,. 26 Có nghĩa là mỗi một Fe(k) và Fo(k) được phân tích thành tổng của hai phép biến đổi Fourier rời rạc của N/2 điểm. Tiếp tục quá trình trên cho đến khi cho đến khi ta được biến đổi Fourier rời rạc của 2 điểm. Ngoài ra, do tính tuần hoàn chu kỳ N/2 nên chỉ cần tính Fe(k) và Fo(k) với N/2 ≤ k ≤ N − 1 hoặc với 0 ≤ k ≤ N/2 − 1.3 Phương pháp xử lý tín hiệu trong miền thời gian – tần số A.
Phép biến đổi Fourier thời gian ngắn Các tín hiệu thường gặp trong thực tế thường là tín hiệu không dừng (ví dụ tín hiệu nhạc, tín hiệu nhiễu, …) thì phân tích Fourier hoàn toàn không mang lại các thông tin hữu ích. Ta xét một ví dụ đơn giản để thấy rõ điều này. Xét trường hợp tín hiệu xung δ(t), phép biến đổi Fourier F(ω)=1, với ∀ω. Ta thấy rằng thông tin về vị trí xung trong miền thời gian hoàn toàn không phát hiện trong miền tần số.
Như vậy, biến đổi Fourier không phân tích được biến thiên tần số trong từng vùng theo thời gian của tín hiệu. Nói cách khác nó không có tính cục bộ về thời gian. Do đó cần cục bộ hóa biến đổi Fourier để có thể phân tích các tín hiệu không tĩnh.