CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ GIAO THÔNG VẬN TẢI VÀ THIẾT BỊ CẢM ỨNG TRÊN ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH 1. Tổng quan về Giao thông vận tải đô thị Hệ thống giao thông vận tải tại các đô thị là hệ thống gồm giao thông và vận tải nhằm đảm bảo cho sự giao lưu liên hệ giữa các khu vực khác nhau trong đô thị [1]. Giao thông vận tải giữ vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống sinh hoạt người dân tại các thành phố hiện đại, chức năng của giao thông vận tải là di chuyển hàng hóa và hành khách theo không gian và thời gian, đảm bảo cho sự liên hệ thường xuyên và thống nhất giữa các khu chức năng chính của đô thị với nhau như: khu dân cư, khu hành chính, khu thương mại, khu vui chơi giải trí khu công thương nghiệp. Hệ thống vận tải đô thị là tập hợp của các phương tiện và phương thức vận tải khác nhau để vận chuyển hành khách và hàng hoá trong thành phố.
Hệ thống giao thông vận tải đô thị gồm: Hệ thống giao thông vận tải đô thị Hệ thống giao thông Hệ thống vận tải đô đô thị thị Hệ thống Hệ thống Vận tải Vận tải Vận tải giao thông giao thông công cá nhân chủ quan, động tĩnh cộng vận tải đặc biệt Mạng Các Công Gara, Các Các điểm Các điểm Các lưới công trình bãi đỗ điểm trung chuyển dừng dọc công đường trình khác xe đầu hàng hoá, tuyến trình sá trên cuối hành khách khác đường 2 z 1. Mạng lưới đường tại đô thị Đặc điểm của đường đô thị về nguyên tắc đầu tiền phải tuân theo những quy định áp dụng đối với đường ôtô thông thường, tiếp theo phải xét những đặc điểm của giao thông và xây dựng đô thị. Bên cạnh đó cũng có rất nhiều nhân tố phụ cũng cần được tính đến khi thiết kế và quy hoạch giao thông tại các đô thị như: • Số lượng các nút giao thông lớn. • Lưu lượng giao thông.
• Việc quy hoạch và sử dụng đất để xây dựng đường gặp nhiều khó khăn. • Việc quy hoạch mạng lưới đường phải luôn tuân theo quy hoạch kiến trúc chung của từng đô thị. Chức năng của đường đô thị là làm cho giao thông đô thị tiện lợi, an toàn và nhanh chóng. Giao thông đô thị là cầu nối giữa sản xuất với sản xuất, sản xuất với lưu thông, sản xuất với tiêu dùng.
Nối liền các khu nhà ở với nhau, các khu nhà ở với khu trung tâm, văn phòng, khu công nghiệp, nhà ga, bến cảng, công viên. Đường đô thị còn giúp liên hệ thuận tiện với mạng lưới đường quốc gia ngoài đô thị với các đô thị lân cận. Căn cứ vào các đặc điểm về chức năng giao thông của đường đô thị, thành phần của dòng xe, loại phương tiện vận chuyển, tốc độ giao thông các đường đô thị được phân loại như sau: a. Đường ô tô cao tốc đô thị (cao tốc trong thành phố) Đường ôtô cao tốc trong đô thị được dùng ở rất nhiều các thành phố lớn hiện nay.
Chức năng của nó là để phục vụ giao thông với tốc độ xe chạy trên đường cao tốc được quy định từ (80 – 100km/h) giữa các khu vực chính của thành phố với nhau, giữa thành phố với các cảng hàng không, giữa thành phố với các khu công nghiệp lớn nằm ngoài phạm vi thành phố nhằm rút ngắn thời gian đi lại, chi phí giảm bớt sự căng thẳng giao thông trong thành phố. • Đặc điểm của đường cao tốc trong đô thị: + Tốc độ xe chạy nhanh, cấm triệt để các loại xe chạy với tốc độ chậm như: xe lam, các loại xe 3 bánh, xe công nông, xe đạp và người đi bộ. 3 z + Nói chung các nút giao cắt với các đường ôtô khác, với đường sắt phải làm theo kiểu giao nhau khác mức, trong trường hợp đặc biệt có thể cho phép giao nhau cùng mức. + Phải luôn có dải phân cách giữa tách biệt dòng xe ngược chiều nhau và các làn đường dành riêng cho các loại xe.
Các xí nghiệp, nhà máy, khu dân cư phải cách ly với đường cao tốc một khoảng cách theo quy định của quy định luật giao thông. Đường giao thông chính toàn thành phố (đô thị) Phục vụ giao thông chính toàn thành phố, nối nhiều các khu vực lớn của đô thị với nhau như: các khu nhà ở, khu dân cư, khu văn phòng, khu trung tâm thương mại, khu công nghiệp, khu trung tâm đô thị, nhà ga đường sắt, bến cảng, công viên, quảng trường lớn, sân vận tốcng tất cả nối với các đường ôtô chính bên ngoài đô thị. • Đặc điểm: + Lưu lượng trên đường giao thông chính thành phố tham gia giao thông lớn, tốc độ xe tương đối nhanh. + Tuy nhiên có phân biệt rõ ràng phần đường dành riêng cho xe đạp, phần xe thô sơ hay phần dành riêng cho xe gắn máy, xe ôtô… + Khoảng cách giữa các nút giao thông trên đều không nên quá gần nhưng cũng không được nhỏ hơn 500m.
+ Đối với các đô thị có diện tích lớn, các điểm giao cắt với đường ôtô khác phải bố trí với các mức khác nhau rõ ràng. Đại lộ Đại lộ là một phần quan trọng của đô thị, chính là bộ mặt của thành phố. Ngoài chức năng về giao thông vận tải nó còn mang đến cho thành phố có những nét riêng về thẩm mỹ và kiến trúc đặc trưng. Đại lộ thường được bố trí tại các khu vực trung tâm, gắn liền với quảng trường chính của thành phố.
• Đặc điểm: + Lưu lượng giao thông và bộ hành lớn. + Khu vực hạn chế các loại tàu điện và xe tải chạy qua. 4 z + Những công trình kiến trúc đặc trưng của thành phố thường nằm hai bên đại lộ và các cơ quan lớn như nhà hát, khu triển lãm, viện bảo tang, câu lạc bộ, khu đô thị nằm trên trục đường này. Đường giao thông chính tại khu vực Mục đích của đường giao thông chính tại các khu vực là giúp phục vụ giao thông và đi lại thuận tiện giữa các khu nhà ở, khu văn phòng, khu công nghiệp và nối nó với các đường giao thông chính toàn thành phố.
• Đặc điểm: + Lưu lượng xe lưu thông ở mức trung bình, thành phần xe đa dạng. + Tại các ngã tư không nên nhỏ dưới 400m. + Phải hạn chế các điểm trường học, nhà trẻ, trường mẫu giáo nằm trên đường phố. Đường phố thương nghiệp Đặc điểm của đường phố thương nghiệp là chủ yếu phục vụ cho đông đảo hành khách đến các cửa hàng, trung tâm thương mại ở hai bên phố được thuận tiện nhất.
Nó thường được xây dựng ở những khu phố hoặc con đường có tình trạng buôn bán sầm uất và ở khu trung tâm thành phố nơi có mật độ dân số cao. • Đặc điểm: + Lưu lượng tại các khu vực này thường là người đi bộ cao rất cao. + Tốt nhất chỉ cho phép xe đạp, xe máy, ô tô đi lại còn các xe cơ giới với trọng tải lớn thì không cho vào đường phố. Đường xe đạp Đường dành riêng cho xe đạp và người đi bộ, thường được áp dụng khi lưu lượng xe đạp và xe cơ giới lớn cần tách riêng đường xe đạp ra khỏi dòng xe chung.
Đường phố nội bộ Đường phố nội bộ chủ yêu phục vụ giao thông và đi lại giữa các tiểu khu và nối liền tiểu khu với hệ thống đường bên ngoài tiểu khu. • Đặc điểm: + Lưu lượng xe chạy và bộ hành tương đối thấp 5 z + Thành phần có đủ mọi loại xe, thường hạn chế xe có trọng tải lớn. + Phải hạn chế bố trí công trình công cộng trên đường loại này. + Phải có các ngõ phố được nối với đường này để thuận tiện ra mạng lưới đường ngoài phố.
Đường phố khu công nghiệp và kho tàng Phục vụ vận chuyển hành khách, hàng hoá có mối liên hệ với các xí nghiệp, các nhà máy và kho bãi… Lưu lượng giao thông chủ yếu là xe tải chiếm tỷ lệ lớn. Đường địa phương Đường địa phương chủ yếu dùng để tương tác giao thông với các khu công nghiệp và khu nhà ở. Có đủ các loại phương tiện chạy trên đường với mật độ cao. Đường đi bộ Chỉ dành riêng cho người đi bộ.
Cấm tất cả các phương tiện tại đây. Phương tiện giao thông đô thị Phương tiện giao thông là yếu tố quan trọng thứ hai đứng sau đường sá trong giao thông đô thị. Chi phí đi lại của cá nhân và xã hội phụ thuộc vào hai yếu tố là đường sá và phương tiện giao thông. Việc lựa chọn phương tiện đi lại phụ thuộc rất lớn vào đường sá, cơ cấu dân số, mức thu nhập và tập quán đi lại.
Sự phân hoá thành các nhóm giàu nghèo trong kinh tế hiện nay đang diễn ra nhanh chóng và được thể hiện rõ nét qua phương tiện tham gia giao thông. Nhóm giàu đi bằng xe sang trọng ô tô riêng, nhưng nhóm nghèo chưa hẳn đã chịu sử dụng các phương tiện công cộng. Đặc biệt ở các nước Đông Nam Á và cụ thể là Việt Nam do tập quán người dân thích tự do chủ động di chuyển, đồng thời chi phí sở hữu một phương tiện riêng cũng không cao hơn so với mức thu nhập bình quân. Các loại phương tiện giao thông phổ biến ở Việt Nam hiện nay là: Xe máy, ôtô riêng, xe đạp.
Trong đó phương tiện chiếm tỷ lệ cao nhất người dân thành phố là xe máy, trong tương lai có thể thay thế bằng ôtô. Nút giao thông • Định nghĩa Nút giao thông là nơi giao lưu giữa các đường ôtô, giữa đường ôtô với đường sắt, đường thành phố và giữa các đường thành phố trong đô thị [1]. 6 z Tại khu vực phạm vi nút giao thông và trung tâm của nút, lái xe phải thực hiện cùng một lúc nhiều động tác phức tạp như: + Định hướng chuyển động cho xe chạy, tăng và giảm tốc độ. + Thực hiện các công việc như: Nhập và tách dòng, trộn dòng, giao cắt với các luồng xe khác.
+ Thực hiện cho xe chuyển làn (từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong, …) Vì vậy tại nút giao thông các hiện tượng ùn tắc giao thông xảy ra rất thường xuyên và cũng là nơi thường xảy ra tai nạn giao thông là nguyên nhân chính làm giảm năng lực thông hành từ các tuyến đường vào nút. Phân loại nút giao thông • Phân loại theo cao độ mặt bằng của các tuyến có các hướng luồng xe chạy qua nút. • Phân loại theo mức độ phức tạp của nút giao thông. • Phân loại theo sơ đồ tổ chức giao thông.