CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU. Khái niệm an toàn thông tin nhằm mục đích chính bảo vệ các khía cạnh tính bí mật, toàn vẹn và sẵn sàng của thông tin. Trong đó tính toàn vẹn chính là khía cạnh mà luận văn này muốn nghiên cứu, để xác định các nguy cơ thay đổi, giả mạo nội dung trang TTĐT.
Vấn đề an toàn thông tin: cần nêu các mối nguy cơ, tác động đến trang thông tin điện tử nói chung Thông tin phản ánh các thuộc tính của đối tượng vật chất (tin tức về người, đồ vật, sự kiện, biến cố, hiện tượng và quá trình) và quan hệ giữa chúng nên có thể xem thông tin là đối tượng nhận thức và cũng là đối tượng cần bảo vệ. Thông tin được bảo vệ gồm thông tin mật và thông tin “nhạy cảm”. Các nguy cơ đe dọa an toàn thông tin: - An toàn thông tin được đánh giá bằng hai chỉ số: xác suất ngăn chặn các nguy cơ và thời gian đảm bảo mức độ an toàn xác định. Các chỉ số này phụ thuộc lẫn nhau.
Trong những biện pháp bảo vệ thông tin cụ thể cho trước, có thể đảm bảo mức độ an toàn cao hơn trong khoảng thời gian ngắn hơn. - Vì thông tin được chứa trong các tham số thông tin của vật mang, nên để đảm bảo an toàn thông tin, các tham số này phải giữ được giá trị của nó trong khoảng thời gian nhất định. Do tác động của những nhân tố (nhiễu) khác nhau mà giá trị tham số của vật mang tin cũng khác nhau. - Thông tin thường bị đe dọa lấy cắp, thay đổi hay bị xóa một cách vô tình hay cố ý.
Các nguy cơ này thường được thể hiện dưới dạng: Những hoạt động của kẻ ác ý (khai thác thông tin vì mục đích tình báo quốc gia, tình báo thương mại, vì mục đích của những phần tử tội phạm, của những nhân viên không trung thành.); Theo dõi các nguồn tin, nghe trộm các cuộc nói chuyện riêng và thu trộm các tín hiệu âm thanh của máy móc đang làm việc; Chặn bắt các trường điện, trường từ, trường điện từ, các tín hiệu điện và các bức xạ phóng xạ; Truyền trái phép vật mang tin dưới dạng vật chất ra ngoài cơ quan, đơn vị; Những người nắm giữ thông tin riêng hoặc thông tin mật tiết lộ thông tin; Luan van 5 Đánh mất vật mang tin (tài liệu, vật mang tin dưới dạng máy móc, mẫu nguyên vật liệu.); Lan truyền trái phép thông tin qua các trường và các tín hiệu điện xuất hiện ngẫu nhiên ở các thiết bị điện và thiết bị vô tuyến điện, vì các thiết bị đó quá cũ hoặc sản xuất kém chất lượng và vi phạm các nguyên tắc sử dụng; Những hỏng hóc do thiết bị, không thể sửa được trong quá trình làm việc của thu thập, xử lý, lưu giữ và truyền tin, những lỗi do vô ý của người dùng tin. Ảnh hưởng của thiên tai, sự cố về an toàn, ảnh hưởng của các loại nhiễu tự nhiên, nhiễu điện công nghiệp, nhiễu điện từ. - Để bảo vệ thông tin có hiệu quả, cần ước lượng giá trị của nguy cơ đe dọa an toàn thông tin. Giá trị của một nguy cơ cụ thể đối với thành phần thông tin xem xét đầu tiên trong mọi trường hợp có thể biểu thị dưới dạng tích của các thiệt hại tiềm ẩn do thực trạng nguy cơ về yếu tố thông tin đầu tiên với xác suất thực tế thể hiện nó.
- Việc nhận giá trị định lượng tương đối chính xác và khách quan của các thành phần là phức tạp. Việc đánh giá gần đúng độ lớn của nguy cơ đe dọa an toàn thông tin có thể thực hiện được trong những điều kiện và giới hạn sau: Thứ nhất, có thể giả thiết thiệt hại lớn nhất do thông tin bị đánh cắp tương ứng với giá trị của thông tin đó. Thực tế, trong trường hợp thông tin rơi vào tay đối thủ cạnh tranh thì người sở hữu thông tin có thể không những mất lợi nhuận được hưởng mà còn không thể bù được giá thành sản phẩm. Thứ hai, trong trường hợp hoàn toàn không xác định được ý đồ của kẻ ác ý về khai thác thông tin thì sai số dự đoán là nhỏ nhất nếu chấp nhận giá một điều rõ ràng là giá trị thông tin lớn bao nhiêu và nguy cơ đe dọa an toàn thông tin cao bao nhiêu thì các nguồn lực để bảo vệ thông tin càng phải lớn bấy nhiêu.
Từ những phân tích trên đây có thể thấy rằng, việc đánh giá một cách đầy đủ các nguy cơ về an toàn thông tin đối với nguồn tài nguyên thông tin của mỗi cơ quan, tổ chức là bước đi cần thiết để có thể xây dựng các chính sách, giải pháp bảo vệ thông tin một cách hữu hiệu Luan van 6 1. Các hình thức tấn công mạng phổ biến 1. Tấn công bằng phần mềm độc hại (Malware attack) Tấn công malware là hình thức phổ biến nhất. Malware bao gồm spyware (phần mềm gián điệp), ransomware (mã độc tống tiền), virus và worm (phần mềm độc hại có khả năng lây lan nhanh).
Thông thường, tin tặc sẽ tấn công người dùng thông qua các lỗ hổng bảo mật, cũng có thể là dụ dỗ người dùng click vào một đường link hoặc email (phishing) để phần mềm độc hại tự động cài đặt vào máy tính. Một khi được cài đặt thành công, malware sẽ gây ra: - Ngăn cản người dùng truy cập vào một file hoặc folder quan trọng (ransomware) - Cài đặt thêm những phần mềm độc hại khác - Lén lút theo dõi người dùng và đánh cắp dữ liệu (spyware) - Làm hư hại phần mềm, phần cứng, làm gián đoạn hệ thống. Tấn công giả mạo (Phishing attack) Phishing là hình thức giả mạo thành một đơn vị/cá nhân uy tín để chiếm lòng tin của người dùng, thông thường qua email. Mục đích của tấn công Phishing thường là đánh cắp dữ liệu nhạy cảm như thông tin thẻ tín dụng, mật khẩu, đôi khi phishing là một hình thức để lừa người dùng cài đặt malware vào thiết bị (khi đó, phishing là một công đoạn trong cuộc tấn công malware).
Tấn công trung gian (Man-in-the-middle attack) Tấn công trung gian (MitM), hay tấn công nghe lén, xảy ra khi kẻ tấn công xâm nhập vào một giao dịch/sự giao tiếp giữa 2 đối tượng. Khi đã chen vào giữa thành công, chúng có thể đánh cắp dữ liệu của giao dịch đó. Loại hình này xảy ra khi: - Nạn nhân truy cập vào một mạng Wifi công cộng không an toàn, kẻ tấn công có thể “chen vào giữa” thiết bị của nạn nhân và mạng Wifi đó. Vô tình, những thông tin nạn nhân gửi đi sẽ rơi vào tay kẻ tấn công.
- Khi phần mềm độc hại được cài đặt thành công vào thiết bị, một kẻ tấn công có thể dễ dàng xem và điều chỉnh dữ liệu của nạn nhân. Tấn công từ chối dịch vụ (DoS và DDoS) DoS (Denial of Service) là hình thức tấn công mà tin tặc “đánh sập tạm thời” một hệ thống, máy chủ, hoặc mạng nội bộ. Để thực hiện được điều này, chúng Luan van 7 thường tạo ra một lượng traffic/request khổng lồ ở cùng một thời điểm, khiến cho hệ thống bị quá tải, từ đó người dùng không thể truy cập vào dịch vụ trong khoảng thời gian mà cuộc tấn công DoS diễn ra. Một hình thức biến thể của DoS là DDoS (Distributed Denial of Service): tin tặc sử dụng một mạng lưới các máy tính (botnet) để tấn công nạn nhân.
Điều nguy hiểm là chính các máy tính thuộc mạng lưới botnet cũng không biết bản thân đang bị lợi dụng để làm công cụ tấn công. Đọc thêm: Sự nguy hiểm của Tấn công DDoS 1. Tấn công cơ sở dữ liệu (SQL injection) Tin tặc “tiêm” một đoạn code độc hại vào server sử dụng ngôn ngữ truy vấn có cấu trúc (SQL), mục đích là khiến máy chủ trả về những thông tin quan trọng mà lẽ ra không được tiết lộ. Các cuộc tấn công SQL injection xuất phát từ các lỗ hổng của website, đôi khi tin tặc có thể tấn công chỉ bằng cách chèn một đoạn mã độc vào thanh công cụ “Tìm kiếm” là đã có thể tấn công website.
Khai thác lỗ hổng Zero-day (Zero day attack) Lỗ hổng Zero-day (0-day vulnerabilities) là các lỗ hổng bảo mật chưa được công bố, các nhà cung cấp phần mềm chưa biết tới, và dĩ nhiên, chưa có bản vá chính thức. Chính vì thế, việc khai thác những lỗ hổng “mới ra lò” này vô cùng nguy hiểm và khó lường, có thể gây hậu quả nặng nề lên người dùng và cho chính nhà phát hành sản phẩm. Các loại khác Ngoài ra, còn rất nhiều hình thức tấn công mạng khác như: Tấn công chuỗi cung ứng, Tấn công Email, Tấn công vào con người, Tấn công nội bộ tổ chức, v. Mỗi hình thức tấn công đều có những đặc tính riêng, và chúng ngày càng tiến hóa phức tạp, tinh vi đòi hỏi các cá nhân, tổ chức phải liên tục cảnh giác & cập nhật các công nghệ phòng chống mới.
Vấn đề bảo đảm an toàn trang TTĐT nói chung Đối với các doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức cổng/trang TTĐT là kênh cung cấp thông tin hiệu quả và nhanh chóng nhất. Không chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin, các cổng/trang TTĐT còn là kênh quảng bá, giao dịch thương mại và mua bán rất phổ biến hiện nay. Cũng chính đặc điểm này, các cổng/trang TTĐT thường xuyên là mục tiêu tấn công của những kẻ xấu hay tin tặc để khai thác đánh cắp các thông tin liên quan bên trong. Phương thức tấn công phổ biến là khai thác các lỗi bảo mật trên các cổng/trang TTĐT nói riêng và các ứng dụng web nói chung.
Luan van 8 Tin tặc có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để dò tìm và khai thác các lỗi bảo mật của ứng dụng web để thực hiện các cuộc tấn công. Trong cổng/trang TTĐT thường có các thành phần cho người dùng nhập dữ liệu vào như mục đăng nhập, tìm kiếm, bình luận, liên kết đến bài viết, v. Ngoài việc giúp cho người dùng dễ dàng tương tác với cổng/trang TTĐT, các mục này nếu không được kiểm soát chặt chẽ sẽ trở thành một nguy cơ lớn để tin tặc thực hiện các cuộc tấn công. Bởi vậy, trước khi đưa cổng/trang TTĐT vào hoạt động chính thức cần sử dụng các công cụ phần mềm để tìm và kiểm tra tất cả các lỗ hổng có thể bị kẻ xấu khai thác.
Từ đó tìm cách khắc phục những lỗ hổng trên cổng/trang TTĐT của mình để đảm bảo an ninh an toàn. Nhiều công cụ có thể tìm và phát hiện các loại lỗ hổng bảo mật từ những lỗi phổ biến, đến những lỗi ít gặp.