Chương 1: Một số vấn đề lý luận và quy định pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Chương 2: Thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG MUA, BÁN NỢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 1. Một số vấn đề lý luận về hoạt động mua, bán nợ của các ngân hàng thƣơng mại 1.
Khái niệm, đặc điểm hoạt động mua bán nợ của các ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm hoạt động mua bán nợ của ngân hàng thương mại Để giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng, so với các giải pháp thu hồi nợ khác, hoạt động mua bán nợ được đánh giá là một giải pháp có khả năng thu hồi vốn nhanh và hiệu quả hơn các giải pháp còn lại2. Mặc dù vậy, việc mua bán các khoản nợ xấu cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro với bên mua nợ, bởi bản chất của các khoản nợ xấu là các khoản nợ khó đòi, quá hạn, khi con nợ đã mất khả năng thanh toán. Hiện tại, pháp luật Việt Nam vẫn chưa có quy định cụ thể như thế nào là “hoạt động mua, bán nợ”. “Hoạt động mua, bán nợ” là khái niệm được ghép lại từ hai khái niệm “hoạt động” và “mua, bán nợ”.
Trong đó, khái niệm “hoạt động” đã được ghi nhận trong Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (GS. Hoàng Phê chủ biên), theo đó, “hoạt động” được hiểu là “tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội”3. Bên cạnh đó, “mua, bán nợ” với bản chất là thuật ngữ pháp lý – kinh tế đã được quy định trong các văn bản: Quyết định số 140/1999/QĐ-NHNN14, Quyết định 59/2006/QĐ-NHNN và hiện nay là Thông tư 09/2015/TT-NHNN. Tại Quyết định 140/1999/QĐ-NHNN14, “mua, bán nợ” được định nghĩa là: “hoạt động mua, bán, theo đó bên bán nợ chuyển giao khoản nợ mà bên nợ hiện đang nợ bên bán nợ (bao gồm nợ gốc, lãi) cho bên mua nợ và nhận tiền thanh toán, bên mua nợ có nghĩa vụ trả tiền cho bên bán nợ và tiếp nhận các quyền của chủ nợ đối với khoản nợ theo thỏa thuận của hai bên”.
Tiếp theo, theo Quy chế mua, bán nợ của TCTD được ban hành kèm theo Quyết định 59/2006/QĐ-NHNN, mua, bán nợ là “việc chuyển nhượng khoản nợ, theo đó, bên bán nợ chuyển giao quyền chủ nợ của khoản nợ cho bên mua nợ và nhận thanh toán từ bên mua nợ”. 2 Hoàng Văn Thành (2019), Pháp luật về mua bán nợ xấu từ hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học – Trường Đại học Luật Hà Nội. 3 Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, tr.
5 Hiện tại, Thông tư 09/2015/TT-NHNN đã thay thế các quy định trên, song vẫn chưa có định nghĩa về “hoạt động mua, bán nợ” mà chỉ định nghĩa về “mua, bán nợ” là “thỏa thuận bằng văn bản về việc chuyển giao quyền đòi nợ đối với khoản nợ phát sinh từ nghiệp vụ cho vay, khoản trả thay trong nghiệp vụ bảo lãnh, theo đó bên bán nợ chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ cho bên mua nợ và nhận tiền thanh toán từ bên mua nợ”. Như vậy, nhìn chung khái niệm “mua, bán nợ” tại Thông tư có điểm tương đồng với khái niệm “mua, bán nợ” tại Quyết định 140 và nhất là Quyết định 59 về việc nhìn nhận đây là hoạt động chuyển giao quyền mà cụ thể là quyền đòi nợ, trong đó bên bán nợ sẽ thực hiện việc chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ cho bên mua nợ và nhận thanh toán từ bên mua nợ. Song khái niệm “mua, bán nợ” tại Thông tư đã xác định hình thức pháp lý cho thỏa thuận chuyển giao quyền đòi nợ này, cụ thể là dưới dạng văn bản. Như vậy, từ việc kết hợp khái niệm về “hoạt động” và khái niệm về “mua bán nợ” tại các quy định hiện hành, có thể đưa ra nhận định: “Hoạt động mua bán nợ là việc các bên tiến hành thỏa thuận bằng văn bản về việc chuyển giao quyền đòi nợ đối với khoản nợ phát sinh từ nghiệp vụ cho vay, khoản trả thay trong nghiệp vụ bảo lãnh, theo đó bên bán nợ chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ cho bên mua nợ và nhận tiền thanh toán từ bên mua nợ”.
Đặc điểm hoạt động mua bán nợ của ngân hàng thương mại Với cách hiểu trên về hoạt động mua bán nợ của NHTM, có thể rút ra một số đặc điểm của hoạt động này bao gồm: Thứ nhất, hoạt động mua bán nợ của các NHTM là một loại nghiệp vụ thuộc lĩnh vực hoạt động ngân hàng và có đặc điểm của các quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động ngân hàng nói chung. Thứ hai, đối tượng của hoạt động mua bán nợ của các NHTM là các khoản nợ được mua, bán theo quy định tại Thông tư 09/2015/TT-NHNN. Đó là các khoản bao gồm: khoản vay trong nghiệp vụ cho vay và khoản trả thay trong nghiệp vụ bảo lãnh, được xác lập theo hợp đồng tín dụng giữa bên nợ và NHTM. Khoản nợ này phải có khả năng chuyển nhượng, điều này giúp bên mua nợ sau khi mua khoản nợ có thể tiếp tục bán lại cho các chủ thể khác, và giúp NHTM dễ dàng quay vòng nguồn vốn tín dụng của mình khi cần thiết4.
Thứ ba, chủ thể của hoạt động mua bán nợ của các NHTM: tham gia vào hoạt động mua bán nợ của các NHTM phải có ít nhất hai (02) bên chủ thể bao gồm: 4 Nguyễn Thị Bích Mai (2010), Pháp luật về hoạt động mua bán nợ của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật TPHCM, tr. 6 bên mua nợ - các tổ chức, cá nhân cư trú hoặc không cư trú đáp ứng các khả năng và yêu cầu để mua nợ5, và bên bán nợ - các NHTM. Thứ tư, hình thức pháp lý của hoạt động mua bán nợ của các NHTM là hợp đồng mua bán nợ. Hợp đồng mua bán nợ là sự thỏa thuận bằng văn bản về việc chuyển giao quyền đòi nợ đối với khoản nợ, cùng với các lợi ích có liên quan cho bên mua nợ theo những điều kiện và trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
Thứ năm, hoạt động mua bán nợ của NHTM chỉ có thể được xác lập sau khi đã có hoạt động cấp tín dụng trước đó của NHTM trên cơ sở hợp đồng tín dụng. Bởi lẽ, chỉ khi có hợp đồng tín dụng, vai trò chủ nợ của NHTM với quyền mấu chốt là quyền đòi nợ mới được xác lập. Điều này đòi hỏi bên mua nợ khi tiến hành mua nợ với NHTM cần phải có sự đánh giá, kiểm tra về quyền đòi nợ của NHTM khi xác lập hợp đồng mua bán nợ nhằm xác định tính hợp pháp của khoản nợ, nhằm tiến tới đạt được mục đích của các bên khi thực hiện hoạt động mua bán nợ. Bản chất pháp lý của hoạt động mua bán nợ Thứ nhất, hoạt động mua bán nợ có bản chất là một hoạt động mua bán tài sản – một dạng tài sản đặc biệt: các khoản nợ xấu hay nói cách khác, là tổng hợp các quyền tài sản gắn với khoản nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng.
Do đó, cũng giống với hoạt động mua bán tài sản trong pháp luật dân sự, hoạt động này đòi hỏi phải có sự thống nhất ý chí và tự nguyện giữa các chủ thể - bên bán nợ (NHTM) và bên mua nợ (các chủ thể có nhu cầu mua nợ). Bên mua nợ sẽ nhận được các quyền của chủ nợ để khai thác và đòi nợ từ con nợ, trong khi đó ngân hàng sẽ thu về một khoản tiền được định giá tương đương với giá trị của khoản nợ, để duy trì hoạt động kinh doanh bình thường của mình. Thứ hai, việc chuyển giao quyền đòi nợ trong hoạt động mua bán nợ có sự tương đồng với loại giao dịch chuyển giao quyền yêu cầu theo pháp luật dân sự 6. Theo Điều 365 BLDS 2015, “bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ có thể chuyển giao quyền yêu cầu đó cho người thế quyền theo thỏa thuận”.
Như vậy, việc chuyển giao quyền yêu cầu được tiến hành khi có thỏa thuận. Trong hoạt động mua bán nợ, căn cứ hợp đồng mua bán nợ, bên bán nợ (NHTM) sẽ chuyển giao quyền đòi nợ gắn với khoản nợ cho bên mua nợ7, và bên mua nợ sẽ thế quyền của bên bán nợ8, trở thành bên có quyền yêu cầu, cụ thể là quyền đòi nợ. 5 Khoản 4 Điều 3 Thông tư 09/2015/TT-NHNN. 7 Điều 14 Thông tư 09/2015/TT-NHNN.
8 Điều 16 Thông tư 09/2015/TT-NHNN. 7 Đồng thời, trong trường hợp này, với tư cách là bên chuyển giao, bên bán nợ cũng được quy định là phải đáp ứng nghĩa vụ thông báo cho bên có nghĩa vụ (là các con nợ của khoản nợ bị bán) – đây là quy định bắt buộc9 do tính chất của việc thế quyền - mặc dù không cần phải có sự đồng ý của con nợ nhằm giúp cho việc chuyển giao trở nên đơn giản và tiết kiệm thời gian. Mặc dù vậy, cần lưu ý đến việc nếu khoản vay là một khoản vay tuần hoàn hoặc khi ngân hàng chưa giải ngân hết phần vốn đã cam kết, khi đó ngân hàng nên đáp ứng sự chấp thuận của bên vay cho việc mua bán khoản vay10.3 Vai trò của hoạt động mua bán nợ của các ngân hàng thƣơng mại 1.1 Đối với các bên tham gia vào hoạt động mua bán nợ: a. Bên mua nợ Thứ nhất, hoạt động mua bán nợ tạo điều kiện cho bên mua nợ thực hiện mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận.
Ở đây, tác giả đồng tình với quan điểm của tác giả Nguyễn Thị Bích Mai về việc: “Mua nợ được xem là cơ hội đầu tư có chi phí thấp nhưng có thể kết quả trong tương lai sẽ rất khả quan”11. Hoạt động mua nợ đối với bên mua nợ có thể xem là hoạt động kinh doanh một sản phẩm mới – các khoản nợ, mà khi tiến hành kinh doanh, mục tiêu trước hết mà bất kỳ chủ thể kinh doanh nào cũng mong muốn đạt được là tìm kiếm lợi nhuận, kể cả hoạt động mua bán nợ. Trong hoạt động kinh doanh, lợi nhuận được tìm thấy thông qua việc mua hàng hóa với giá thấp nhất so với giá trị thực – và khai thác được lợi ích tối đa nhất.