Mở đầu bài văn khấn, chủ thể tiến hànhinghi lễ thờ cúng thường đọc: “Nam mô A diiđà phật! Kính lạyitổ tiên. Qua đó cho thấy, người Việt quan niệmiPhật là đấng cứu độ chúng sinh, cứu độ tổ tiên, hướng đườngicho tổitiên về cõi Tây phương cực lạc. Người Việt niệmiPhật A di đà với ý nghĩa cầu mongisự siêu thoát cho tổitiên và sự độ trì cho con cháu nơi trần thế. Như vậy, mặc dù chưa xác định được tíningưỡng thờ cúng tổitiên của người Việt xuất hiện vào thời điểm nào trong lịch sử, nhưng có thể nói rằng, từ xa xưa, xã hội Việt Nam đã chứa đựng những yếu tố thuận lợi, mầm mống cho sự hình thành tíningưỡng này.
Tuy nhiên, tíningưỡng thờ cúng tổitiên chỉ phát triển, có biểu hiện rõ nét hơn, rồi ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người Việt là nhờ sự tiếp biến, tác động bởi một số tôn giáo, trong đó có: Khổng giáo, Phật giáo và Đạo giáo. Những quan niệm từ những tôn giáo này còn tiếp tục bồi đắp, song hành trên diễn trình, đường đi của tíningưỡng thờ cúngitổ tiên. Khái niệm di sản và diisản dùngivàoiviệc thờicúng 1. Khái niệm di sản Theo từ điển Tiếng Việt thì di sản: - Tài sản của người chết để lại: một số trường hợp cụ thể như được thừa hưởng di sản của cha mẹ, ông bà sau khi chết để lại.
- Các giá trị về văn hóa, tinh thần của một quốc gia hoặc một dân tộc để lại như “Kế thừa di sản văn hóa. Kinh tế, văn hóa lạc hậu là di sản của chế độ cũ”. Với đề tài nghiên cứu này thì di sản được hiểu theo nghĩa là tài sản của người chết để lại, không phải di sản của thời kỳ trước để lại (di sản văn hóa các cấp). Theo quy định tại Điều 612 BLDS năm 2015 thì “Diisản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sảnicủa người chết trong tài sản chungivới người khác”.
11 Theo từ điển Luật học thì di sảnithừa kế là “Tài sản của người chết để lại cho những người thừa kế. Di sảnithừa kế bao gồm: tài sản riêngicủa người chết, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác; quyền sử dụng đất là di sảnithừa kế theo quy định của pháp luật dân sựivà đất đai. Di sảnithừa kế còn bao gồm các quyền và nghĩa vụ tài sản của người chết để lại như: quyền đòi nợ, quyền đòi bồi thường thiệt hại; các quyền nhân thân gắn với tài sản như: quyền tác giả, quyền đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp; các khoản nợ, các khoản bồi thường thiệt hại…” Theo các quy định và khái niệm trên thì người chết không những để lại các tài sản riêng của mình, phần tài sản của mình trong tài sản chung với người khác, quyền về tài sản (như quyền đòi nợ, quyền đòi bồi thường thiệt hại, quyền nhân thân gắn với tài sản) mà còn có thể để lại cả những nghĩa vụ về tài sản (như phải trả nợ, bồi thường thiệt hại). Có nhiều ý kiến khác nhau về việc di sản có bao gồm cả những nghĩa vụ mà người chết để lại hay không.
Theo quan điểm cá nhân tôi, di sản không bao gồm cả những nghĩa vụ về tài sản vì trước khi chia di sản thì những người thừa kế phải thanh toán tất cả các nghĩa vụ sau đó mới phân chia (căn cứ theo các quy định từ Điều 659 đến Điều 662 BLDS năm 2015). Việc thực hiện nghĩa vụ không phải với tư cách của người nhận di sản mà chỉ là thực hiện thay nghĩa vụ của người chết mà thôi. Như vậy, đối với các tài sản của người chết để lại để thực hiện nghĩa vụ còn lại của người đó thì các tài sản đó không được xem là di sản mà chỉ là các quyền tài sản của những người có quyền đối với người đó. Diisản dùngivàoiviệc thờicúng Diisản dùngivàoiviệc thờicúng thờ cúng tổitiên là một truyền thống tốt đẹp đã tồn tại lâu đời trong xã hội Việt Nam.
Việc thờ cúng tổitiên thể hiện sự hiếu thảo, kính trọng của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Khi ông bà, cha mẹ trước còn minh mẫn, khỏe mạnh có thể lập di chúc để lại một phần tài sản trong khối tài sản của mình cho con cháu để thực hiện việc thờ cúng mình và thờ cúngitổ tiên. Nhà nước luôn tôn trọng và bảo vệ các truyền thống tốt đẹp của dân tộc thông qua các quy định cụ thể. Diisản dùngivàoiviệc thờicúng có thể xem làm là một chế định “đặc thù” của Việt Nam vì pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới không có quy định này.
Quy 12 định về diisản dùngivàoiviệc thờicúng đã xuất hiện trong các bộ luật cổ của Việt Nam, cụ thể: theo quy định tại Điều 388 Bộ luật Hồng Đức “cha mẹ mất cả, có ruộng đất, chưa kịp để lại chúc thư, mà anh em, chị em tự chia nhau, thì lấy 1/20 số ruộng đất làm phần hươngihỏa”. Thiện chính thư đoạn 12 và 13 nói “người chết mà không còn thừa kế thì giao một phần di sản cho trong họ cày cấy để giỗ chạp”. Tại Điều 83, Luật Gia Long quy định: “bó buộc phải để dành một phần di sản của người quá cố để lập làm hươngihỏa”. Tính “bắt buộc” dành một phần di sản để dùng vào việc thờ cúng đã không còn tồn tại trong các quy định của Bộ dân luật Bắc kỳ và Bộ dân luật Trung kỳ (hai Bộ luật được hình thành trong thời kỳ Pháp thuộc).
Việc có để lại di sản để dùng vào việc thờ cúng hay không là quyền của người lập di chúc. Cả hai bộ luật này đề có quy định: “khi không có con cháu trai, thì không ai bị bắt buộc phải lập thừa tự để thờ cúng mình”. Trong Phápilệnh thừaikế nămi1990 cũng như trong các BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015 đều có quy định người lập di chúc có “quyền” dànhimột phầnitài sản của mình cho việc thờ cúng chính mình và tổ tiên. Tức là không bắt buộc phải dànhimột phầnitài sản trong khối di sản cho việc thờ cúng.
Theo quy định tại Điều 21 Phápilệnh thừaikế nămi1990: “nếu ngườiilập di chúc có để diisản dùngivàoiviệc thờicúng thì di sản đó được coi như di sản chưa chia” và theo khoản 3, Điều 626 BLDS năm 2015 (tương tự Điều 651 BLDS năm 1995 và Điều 648 BLDS 2005), người lập di chúc có quyền: “dànhimột phầnitài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng”. Có thể thấy rằng, quy định về diisản dùngivàoiviệc thờicúng đã tồn tại từ lâu trong pháp luật nước ta 1. Quy định về diisản dùngivàoiviệc thờicúng qua các thời kỳ Hiện nay, vẫn chưa rõ chế định diisản dùngivàoiviệc thờicúng xuất hiện vào thời kỳ nào. Tuy nhiên, trong pháp luật thời nhà Lê đã có chế định này và nó đã tồn tại cho đến ngày nay với nhiều thay đổi để phù hợp với sự phát triển của xã hội.
* Diisản dùngivàoiviệc thờicúng thời nhà Lê Diisản dùngivàoiviệc thờicúng dưới thời nhà Lê được quy định cụ thể tại các Điều 388, 389, 390 và Điều 391 Quốc triều Hình luật với một số điểm tương đồng 13 với các quy định hiện nay. Quốc triều Hình luật thừa nhận hai hình thức thừa kế là thừa kế là theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Trong trường hợp cha mẹ mất mà không để lại di chúc thì bắt buộc các con phải trích ra 1/20 số điền sản (ruộng đất) để làm hươngihỏa thờ cúng tổitiên và được giao cho người con trưởng quản lý, số điền sản còn lại sẽ được phân chia (Điều 388). Trong trường hợp cha mẹ mất có để lại di chúc thì thực hiện theo di chúc nhưng số điền sản dùng làm hươngihỏa không được quá 1/20 tổng số điền sản.
Về người trông coi hươngihỏa thì theo tục lệ thời nhà Lê sẽ do con trai trưởng trông coi và thờ cúng tổitiên (Điều 389). Nếu con trai trưởng chết thì sẽ giao lại cho cháu trưởng, nếu không có cháu trưởng thì mới giao lại cho con thứ. Trong trường hợp vợ lớn không có con trai nào khác thì chọn một người con hiền hòa của vợ lẻ để trong coi hươngihỏa. Bên cạnh đó, hươngihỏa trong pháp luật thời nhà Lê còn một điểm đặt biệt là hươngihỏa sẽ được nhập vào điền sản của người trông coi và sẽ tiếp tục trích 1/20 điền sản để làm hươngihỏa để truyền lại cho đời kế tiếp (Điều 390).
Theo quy định tại Điều 391 thì người trông coi hươngihỏa sẽ giao lại hươngihỏa cho con trai trưởng trông coi, nếu không có con trai trưởng thì giao cho con gái trưởng trông coi, như vậy, việc xác định người trông coi hươngihỏa ở các đời sau sẽ thực hiện theo quy định tại Điều 391 chứ không theo quy định tại Điều 389. * Diisản dùngivàoiviệc thờicúng dưới thời nhà Nguyễn Soivới phápiluật thời nhà Lê thì Bộ Hoàng Việt luật lệ của nhà Nguyễn có ít chế định về thừa kế hơn nhưng cơ bản thì những nguyên tắc về quan hệ tài sản và thừa kế vẫn tươngatự luậtathời Lê. Về diisản dùng vàoiviệc thờicúng, luật thời nhà Nguyễn có một số điểm khác biệt so với thời nhà Lê như sau: Đối với ruộng hươngihỏa, nếu khôngicó con traiaphải choicháu trai (con trai người con thứ); trừ khiikhông cóicháu trai nàoikhác để thừaikế mớiitrao choicon gáiitrưởng. Bộ HoàngvViệt luật lệichỉ quy địnhimức tốiiđa về giáitrị của diisản dùngivàoiviệc thờicúng trong trườngihợp diisản khôngicó người thừaihưởng.
Tại lệnh năm thứ tư đời Thiệu Trị, mức này là 3/10 di sản, độiakhung ở 3000aquan tiền hoặc 30imẫu ruộng. Nhưnginếu diisản có giáitrị không đángikể thì cóithể được dànhitrọn vàoiviệc thờicúng. 14 Về thừaikế tựisản: Là thừaikế tàiisản dùng để tếitự, thờ cúng tổitiên và kế truyền dòng dõi theo nội tộc. Thứ tự ưu tiên là: Trưởng tử dòng đích, nếu trưởng tử chết thì cháu đích tôn thay cha thừa trọng để thờ cúngitổ tiên; con kế dòng đích; con dòng nhánh; lập đích tử trong “Chiêu mục tương đương” nếu không có con trai.
Luật cũng cho phép một người con được thừa kế tự sản hai nhà. Nếu vi phạm trật tự thừa kế trên phải chịu chế tài theo luật định (Điều 37). Nếu trong thân thuộc không có người đáng được thừa kế tự sản thì con gái được thừa kế (Lệ 2 Điều 83). Nếu người lập tự không bằng lòng với con lập tự hoặc có hiềm khích thì cho phép trình quan ti để lập người khác.