Chương 1 NHƢ̃ NG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LƢỢNG TÁI TẠO 1. QUAN ĐIỂM VỀ NĂNG LƢỢNG TÁI TẠO Năng lượng tái tạo là một khái niệm rộng , mang tính khoa học , hiện đang được quan niê ̣m the o nhiều cách hiể u khác nhau : Bách khoa toàn thư Việt Nam có định nghĩa: Năng lượng tái tạo hay năng lượng tái sinh là năng lượng từ những nguồn liên tục mà theo chuẩn mực của con người là vô hạn. Nguyên tắc cơ bản của việc sử dụng năng lượng tái sinh là tách một phần năng lượng từ các quy trình diễn biến liên tục trong môi trường và đưa vào trong các sử dụng kỹ thuật. Các quy trình này thường được thúc đẩy đặc biệt là từ Mặt trời [37].
Trong cách nói thông thường, năng lượng tái tạo được hiểu là những nguồn năng lượng hay những phương pháp khai thác năng lượng mà nếu đo bằng các chuẩn mực của con người thì là vô hạn. Vô hạn có hai nghĩa: Một là : năng lượng tồn tại nhiều đến mức mà không thể trở thành cạn kiệt vì sự sử dụng của con người (ví dụ như năng lượng Mặt trời). Hai là : năng lượng tự tái tạo trong thời gian ngắn và liên tục (ví dụ như năng lượng sinh khối) trong các quy trình còn tiế p diễn trong một thời gian dài trên Trái đất. Theo ý nghĩa về vật lý, năng lượng không được tái tạo mà trước tiên là do Mặt trời mang lại và được biến đổi thành các dạng năng lượng hay các vật mang năng lượng khác nhau.
Tùy theo trường hợp mà năng lượng này được sử dụng ngay tức khắc hay được tạm thời dự trữ. Việc sử dụng khái niệm "tái tạo" theo cách nói thông thường là dùng để chỉ đến các chu kỳ tái tạo mà đối với con người là ngắn đi rất nhiều (ví dụ 8 z như khí sinh học so với năng lượng hóa thạch ). Trong cảm giác về thời gian của con người thì mă ̣t trời sẽ còn là một nguồn cung cấp năng lượng trong một thời gian gần như là vô tận. Mặt trời cũng là nguồn cung cấp năng lượng liên tục cho nhiều quy trình diễn tiến trong bầu sinh quyển trái đất.
Những quy trình này có thể cung cấp năng lượng cho con người và cũng mang lại những cái gọi là nguyên liệu tái tăng trưởng. Luồng gió thổi, dòng nước chảy và nhiệt lượng của Mặt trời đã được con người sử dụng trong quá khứ. Quan trọng nhất trong thời đại công nghiệp là sức nước nhìn theo phương diện sử dụng kỹ thuật và theo phương diện phí tổn sinh thái. Ngược lại với việc sử dụng các quy trình này là việc khai thác các nguồn năng lượng như than đá hay dầu mỏ, những nguồn năng lượng mà ngày nay được tiêu dùng nhanh hơn là được tạo ra rất nhiều.
Theo ý nghĩa của định nghĩa tồn tại "vô tận" thì phản ứng tổng hợp hạt nhân (phản ứng nhiệt hạch), khi có thể thực hiện trên bình diện kỹ thuật, và phản ứng phân rã hạt nhân (phản ứng phân hạch) với các lò phản ứng tái sinh (breeder reactor), khi năng lượng hao tốn lúc khai thác uranium hay thorium có thể được giữ ở mức thấp, đều là những nguồn năng lượng tái tạo mặc dù là thường thì chúng không được tính vào loại năng lượng này. Khoản 1 điều 33 Luật Bảo vê ̣ môi trường năm 2005 (Phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và sản phẩm thân thiện với môi trường) có định nghĩa: Năng lượng sạch, năng lượng tái tạo là năng lượng được khai thác từ gió, mặt trời, địa nhiệt, nước, sinh khối và các nguồn tái tạo khác Khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 3 Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả năm 2010 (có hiệu lực 1/1/2011) định nghĩa: i) Năng lượng bao gồm nhiên liệu, điện năng, nhiệt năng thu được trực tiếp hoặc thông qua chế biến từ các nguồn tài nguyên năng lượng không tái tạo và tái tạo; ii) Tài nguyên năng lượng không tái tạo gồm than đá, khí than, dầu mỏ, khí thiên nhiên, quặng 9 z urani và các tài nguyên năng lượng khác không có khả năng tái tạo; iii) Tài nguyên năng lượng tái tạo gồm sức nước, sức gió, ánh sáng mặt trời, địa nhiệt, nhiên liệu sinh học và các tài nguyên năng lượng khác có khả năng tái tạo [43]. Khoản 13 điều 2 Quyế t đinh ̣ số 18/2008/QĐ-BCT ngày 18/7/2008 của Bộ trưởng Bộ Công thương quy định về biểu giá chi phí tránh được cho các Nhà máy điện nhỏ sử dụng năng lượng tái tạo có định nghĩa: Năng lượng tái tạo là năng lượng được sản xuất từ các nguồn như thủy điện nhỏ, gió, mặt trời, địa nhiệt, thủy triều, sinh khối, khí chôn lấp rác thải, khí của nhà máy xử lý rác thải và khí sinh học. Khoản 2, điều 3 Nghị định số 04/2009/NĐ-CP ngày 14/1/2009 của Chính phủ về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường có định nghĩa: Sản xuất năng lượng sạch, năng lượng tái tạo là việc sản xuất năng lượng từ sử dụng sức gió, ánh sáng mặt trời, thủy triều, địa nhiệt.
Theo dự thảo Nghị định Về khuyến khích, hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo lần 5 ngày 28/08/2009 do Bộ Công thương chủ trì soạn thảo có định nghĩa: Năng lượng tái tạo là các dạng năng lượng phi hoá thạch, có khả năng tái tạo, bao gồm: các nguồn thủy điện nhỏ, năng lượng biển (phát điện bằng sóng biển, thủy triều, năng lượng dòng hải lưu), năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng địa nhiệt; năng lượng sinh khối và nhiên liệu sinh học. Theo tác giả các định nghĩa trên theo quy định pháp luật là chưa thật sự phù hợp với nội hàm của thuật ngữ "Năng lượng tái tạo" nếu theo những cách hiểu thông thường hoặc theo cách hiểu về vật lý. Những định nghĩa theo quy định pháp luật hiện hành, đều mang mang tính liệt kê, vì thế khi áp dụng thực tiễn sẽ gặp rất nhiều khó khăn, nếu phát sinh một dạng năng lượng tái tạo mà Luật không ghi nhận và không thể lường trước được. Do đó, trong trường hợp Nhà đầu tư quyết định thực hiện một số dự án về khai thác, sử dụng năng lượng tái tạo sẽ gặp không ít khó khăn, thậm chí phải xin cơ chế đặc thù từ phía cơ quan nhà nước.
10 z Cũng theo cách hiểu về nội hàm của "Năng lượng tái tạo" thì mọi nguồn năng lượng mà có nguồn cung cấp từ "nước" đều được hiểu là một dạng năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, theo quy định pháp luật lại được giới hạn bởi "nguồn thủy điện nhỏ". Theo quy định tại Quyết định số 2395/QĐ-BCN ngày 01/9/2010 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương) về việc phân loại công suất lắp máy thủy điện nhỏ và siêu nhỏ trong tính toán quy hoạch phát triển các nguồn năng lượng tái tạo, tại Điều 1 Quyết định có định nghĩa "Thủy điện nhỏ: Công suất lắp máy lớn hơn hoặc bằng 1MW và nhỏ hơn hoặc bằng 30MW". Nhưng nếu theo cách hiểu theo quy định tại Luật đầu tư năm 2005 và Quyết định số 18/2008/QĐ-BCT ngày 18/7/ 2008 của Bộ trưởng Bộ Công thương quy định về biểu giá chi phí tránh được cho các nhà máy điện nhỏ sử dụng năng lượng tái tạo thì được hiểu đây là nguồn thủy điện có công suất đạt dưới 30MW hoặc cụm nhà máy thủy điện bậc thang trên cùng một dòng sông, tổng công suất đặt của các nhà máy này phải nhỏ hơn hoặc bằng 60MW.
Từ quan điể m tổ ng hơ ̣p nêu trên , nhâ ̣n thấ y đinh ̣ nghiã "năng lươ ̣ng tái tạo" có nhiều cách hiểu khác nhau về mặt lý tính tự nhiên hay về mặt pháp lý. Trong đó , đinh ̣ nghiã "năng lươ ̣ng tái ta ̣o " đươ ̣c sử du ̣ng trong các văn bản pháp luật của Nhà nước hiện nay là chưa thống nhất , còn nhiều mâu thuẫn , cầ n phải đươ ̣c hê ̣ thố ng hóa và thố ng nhấ t trong viê ̣c áp du ̣ng. Theo quan điể m của tác giả thì năng lươ ̣ng tái ta ̣o là c ác dạng năng lượng phi hoá thạch , có khả năng tái tạo mà con người có thể sử du ̣ng vào nhiề u mu ̣c đić h khác nhau trong lao đô ̣ng , sản xuất, kinh doanh và sinh hoa ̣t. PHÂN LOẠI NGUỒN NĂNG LƢỢNG TÁI TẠO Hiê ̣n nay theo quy đinh ̣ pháp luâ ̣t , không có đinh ̣ nghiã rõ ràng về các dạng năng lượng tái tạo khác nhau.
Tuy nhiên , xét theo tính chất vật lý của mỗi da ̣ng năng lươ ̣ng và quá triǹ h chuyể n hóa năng lươ ̣ng của mỗi da ̣ng , ta có thể phân loa ̣i năng lươ ̣ng tái ta ̣o t hành các dạng cơ bản sau đây. Năng lƣợng mặt trời Là dạng năng lượng sử dụng nhiệt năng sẵn có của mặt trời để sử dụng trực tiếp hoặc chuyển hóa thành điện năng phục vụ nhu cầu của cuộc số ng. Đây là nguồn năng lượng vô tận và gần như hoàn toàn miễn phí cũng như không sản sinh ra chất thải hủy hoa ̣i môi trường. Hiê ̣n nay năng lượng mặt trời đang đươ ̣c các nước tâ ̣p trung nghiên cứu , ứng dụng trong đời sống thực hiễn , nhưng do vẫn còn đang trong thời kỳ đầu củ a những ứng dụng , vì vâ ̣y chi phí đầu tư lớn cho thiết bị , dẫn tới số lươ ̣ng thành phầ n sử du ̣ng trực tiế p năng lươ ̣ng mă ̣t trời phu ̣c vu ̣ sản xuấ t , kinh doanh cũng như đời số ng sinh hoạt thường ngày vẫn còn hạn chế.
Năng lƣợng gió Sự chuyển động của không khí dưới sự chênh lệch áp suất khí quyển tạo ra gió; nên đây cũng là một nguồn năng lượng vô cùng tận so với đời sống con người. Hiê ̣n nay , sức gió đang được ứng du ̣ng để chuyể n hóa thành điê ̣n năng phục vụ đời sống con người, thông qua những máy quay gió (tuabin gió). Loại hình này cũng không tạo ra chất thải ô nhiễm môi trường , vì vậy viê ̣c tâ ̣n du ̣ng lơ ̣i thế ta ̣i những khu vực có lưu lươ ̣ng gió ổ n đinh ̣ để phát triể n các nhà máy phong điện sẽ là lời giải cho bài toán năng lượng và môi trường trong thời gian tới. Tuy nhiên , giống như năng lượng mặt trời , loại hình năng lượng này cũng đòi hỏi vốn đầu tư khá cao và lệ thuộc vào tự nhiên , nên nhiề u nhà đầ u tư vẫn còn ru ̣t rè khi đầ u tư và o da ̣ng năng lươ ̣ng trên .