Chương 1 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KINH NGHIỆM 17 1. Các mô hình lý thuyết 33 1. Lý thuyết về nghèo đói 47 1. Các khái niệm về nghèo đói - Nghèo luôn tồn tại như là một tất yếu tự nhiên trong mọi xã hội, cả ở những nơi mà trình độ phát triển kinh tế đã đạt đến mức độ cao như ở Mỹ, Tây Âu.
Ở các nước đang phát triển, đói nghèo là tình trạng khá phổ biến, nhất là khu vực nông thôn. Nghèo là vấn đề kinh tế xã hội phức tạp, đa phương diện và không thuần tuý chỉ là vấn đề kinh tế, cho dù thước đo của nó trước hết và chủ yếu dựa vào thước đo về kinh tế được thể hiện qua chỉ số thu nhập hoặc tiêu dùng. Điều này có nghĩa nghèo không chỉ phản ánh sự thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu phương tiện sản xuất và sinh hoạt, mà còn phản ánh sự thiệt thòi trên bình diện sức khỏe, giáo dục… Những khía cạnh khác nhau của nghèo đói thể hiện tính đa phương diện của nó như: thu nhập, sức khỏe, giáo dục, nguy cơ bị tổn thương, thường tác động qua lại và hỗ trợ nhau. Nhìn chung, những khía cạnh khác nhau của nghèo thường vận động cùng hướng với nhau, nếu một cá nhân nào đó nghèo về thu nhập thì sẽ làm hạn chế khả năng tiếp cận các dịch vụ như giáo dục, y tế, dẫn đến nghèo về giáo dục, y tế.
Tuy nhiên khía cạnh này có thể vận động khác hướng với những khía cạnh khác, ví dụ tình trạng y tế có thể được cải thiện trong khi thu nhập lại giảm sút, hoặc một cá nhân nào đó nghèo về thu nhập nhưng lại không nghèo về sức khỏe. Trên thực tế không có một khái niệm duy nhất về nghèo, mà nghèo là một khái niệm tương đối, luôn biến đổi và là tình trạng thiếu thốn trên nhiều phương diện. Khái niệm nghèo hiện nay không còn được tranh cãi nhiều và hầu như đã đi đến thống nhất, chỉ có sự khác nhau về phương pháp đo lường và đánh giá chuẩn nghèo giữa các tổ chức quốc tế, của Chính phủ Việt Nam. Khái niệm nghèo 123doc -8- hiện nay bao hàm nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.
- Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện tại nơi đang xem xét. Khái niệm nghèo mà luận văn dùng để nghiên cứu tập trung vào nghèo tương đối và được đo lường bằng mức chuẩn nghèo chung do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đề ra. Chuẩn nghèo chung bao gồm nghèo về lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm được xác định dựa trên cơ sở: tổng chi phí bằng tiền đủ mua một lượng lương thực, thực phẩm cần thiết để đảm bảo năng lượng 2.100 ca-lo mỗi ngày cho một người, cộng với chi phí các mặt hàng như: nhà ở, quần áo, đồ dùng gia đình, giáo dục, y tế, văn hoá…Mức chuẩn nghèo này khác nhau giữa nông thôn và thành thị và được tính cụ thể cho từng thời kỳ khác nhau. Dựa trên khái niệm và chuẩn nghèo này, người nghèo ở đây được định nghĩa như sau: người nghèo là những người có mức thu nhập thấp và chi tiêu không đủ để đảm bảo giỏ tiêu dùng (gồm lương thực và phi lương thực, trong đó chi tiêu cho lương thực phải đủ 2.100 ca-lo/ngày) và có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng trên mọi phương diện tại nơi đang xem xét.
Họ thiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế xã hội của quốc gia, đặc biệt họ thiếu khả năng tiếp cận, kiểm soát các nguồn lực của sự phát triển một cách có hiệu quả. Đối tượng nghèo mà luận văn nghiên cứu tập trung vào những hộ dân cư là đồng bào dân tộc M’Nông sống ở nông thôn, hầu hết là vùng sâu vùng xa, có mức thu nhập dưới mức chuẩn nghèo, thiếu vốn hoặc thiếu khả năng tiếp cận vốn và họ có nhu cầu vay vốn. - Nghèo tuyệt đối: người hay hộ gia đình có thể được xem là nghèo hay sống trong tình trạng nghèo khi thu nhập của họ nằm ở mức tuyệt đối hay mức sống tuyệt đối nào đó, thường là ở dưới mức tối thiểu chuẩn đã được quy định ( thường theo chuẩn của WB). - Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương 80 81 đương của địa phương (so với đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như là 82 chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối.
Trong những bước sau đó các trị ranh giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, 123doc -9- từ 2 đô la cho châu Mỹ La tinh và Carribean đến 4 đô la cho những nước Đông 83 84 85 Âu cho đến 14,40 đô la cho những nước công nghiệp. 86 - Đối với Việt Nam, Chính phủ đã 4 lần nâng mức chuẩn nghèo trong thời 87 gian từ 1993 đến cuối năm 2005. Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8 tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp 88 89 dụng cho giai đoạn 2006-2010 thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. Tiêu chuẩn nghèo tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2004 là thu nhập bình quân đầu người dưới 330.000 đồng/tháng hoặc 4.
Hiện nay Chính phủ Việt Nam đã điều chỉnh mức chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010 ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 300.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có mức thu nhập bình quân từ 390.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo. Vòng luẩn quẩn của nghèo đói và mối quan hệ với cung tín dụng Đối với người nghèo nói chung và đồng bào dân tộc ở vùng sâu, vùng xa nói riêng, hiện nay đời sống và sản xuất của họ đang ở trong vòng luẩn quẩn: Sơ đồ vòng luẩn quẩn của nghèo đói Nguồn: Tổng hợp của tác giả 123doc - 10 - Nông dân nghèo thu nhập thấp, thường không đủ ăn, không có tích luỹ, thiếu vốn nên không đầu tư (vật tư, phận bón…) và không có điều kiện ứng dụng khoa học kỹ thuật nên năng suất thấp,thu nhập kém, làm không đủ ăn, phải đi làm thuê, phải vay mượn để đảm bảo cuộc sống tối thiểu hàng ngày. Trong đó thiếu vốn sản xuất là một lực cản lớn nhất hạn chế sự phát triển sản xuất và nâng cao đời sống của nông dân nghèo. Thiếu kinh nghiệm và kiến thức làm ăn cũng là một trong những yếu tố nằm trong vòng luẩn quẩn đói nghèo.
Phương pháp canh tác cổ truyền đã ăn sâu vào tiềm thức, sản xuất tự cung tự cấp là chính, thường sống ở những nơi giao thông đi lại khó khăn, thiếu phương tiện, trẻ em thất học…Những khó khăn đó làm cho nông dân nghèo không thể nâng cao trình độ dân trí, không có điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thiếu kinh nghiệm và trình độ sản xuất dẫn đến năng suất thấp. Tuy nhu cầu về đầu tư của người nghèo là rất lớn, song đi kèm là trình độ dân trí, trình độ sản xuất để sử dụng đồng vốn có hiệu quả là một vấn đề hết sức quan trọng hiện nay. Theo nghiên cứu của Tiến sĩ Vương Xuân Tình, ở nhiều vùng đồng bào dân tộc ít người vùng cao tình trạng cho vay của tư thương còn làm cho vòng luẩn quẩn của nghèo đói càng trầm trọng: “các hình thức cho vay cả tiện nghi sinh hoạt như tivi, video, đài, xe máy… Khi trả, người vay thường trả bằng lương thực, thực phẩm mà nếu tính ra, có thể lãi suất lên tới vài chục phần trăm! Với lối tư duy của người dân vùng cao, nhất là người chỉ quen làm nương rẫy thì họ không hề biết run sợ trước lãi suất ấy! Miễn là có cái ăn, cái tiêu đã, còn nợ trả sau. Và như thế, lãi mẹ đẻ lãi con, lãi năm trước chồng lên lãi năm sau.
Có gia đình không còn gì trả nợ, phải gán bằng công lao động. Rồi lại thiếu ăn, phải đi vay tiếp và kéo dài nợ nần năm này sang năm khác. Cái vòng luẩn quẩn là như thế”. Lý thuyết thị trường tín dụng nông thôn - Khái niệm tổng quát về tín dụng và tín dụng ngân hàng:Tín dụng là một phạm trù kinh tế đã tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế-xã hội,bản chất của nó là 123doc - 11 - một quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả (cả vốn và lãi) sau một thời hạn nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ bình đẳng hai bên cùng có lợi.Trong nền kinh tế hàng hoá có nhiều loại hình tín dụng như: tín dụng thương mại,tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tíndụng tiêu dùng.
Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng nói chung, đó là quan hệ tin cậy lẫn nhau và cùng có lợi giữa các ngân hàng, tổ chức tín dụng với các tổ chức, cá nhân, được thực hiện dưới hình thức tiền tệ và theo nguyên tắc hoàn trả có lãi. Do đặc điểm riêng của mình, tín dụng ngân hàng đạt được ưu thế hơn các hình thức tín dụng khác về khối lượng, thời hạn và phạm vi đầu tư. Với đặc điểm tín dụng bằng tiền, vốn tín dụng ngân hàng có khả năng đầu tư chuyển đổi vào bất cứ lĩnh vực nào của sản xuất và lưu thông hàng hoá. Vì vậy mà tín dụng ngân hàng ngày càng trở thành một hình thức tín dụng quan trọng trong các hình thức tín dụng hiện có.
- Tín dụng nông thôn: Mục tiêu cuối cùng của hệ thống tín dụng nông thôn là đáp ứng nhu cầu về vốn cho người nghèo ở nông thôn. Tín dụng đối với người nghèo là những khoản tín dụng chỉ dành riêng cho những người nghèo, có sức lao động, nhưng thiếu vốn để phát triển sản xuất trong một thời gian nhất định phải hoàn trả số tiền gốc và lãi; tuỳ theo từng nguồn vốn có thể hưởng theo lãi suất ưu đãi khác nhau nhằm giúp người nghèo mau chóng vượt qua nghèo đói vươn lên hoà nhập cộng đồng. - Các nhà kinh tế học thuộc trường phái Ohio như Adams (1984), Von Pischke (1978), và Gonzalez - Vega (1984) tranh luận rằng chỉ có một bộ phận rất nhỏ của nông dân nghèo đắc thủ được nguồn tín dụng với lãi suất thấp trong các nước đang phát triển.