MỞ ĐẦU Hiện nay hầu hết tàu thuyền cỡ nhỏ của Việt Nam đƣợc đóng bằng gỗ, nhƣ chúng ta biết, nguồn gỗ phục vụ cho đóng mới và sửa chữa tàu cá đang ngày càng cạn kiệt do bị khai thác bừa bãi, diện tích rừng bị thu hẹp, ảnh hƣởng nghiêm trọng đến môi trƣờng sinh thái. Việc tìm nguồn nguyên liệu mới thay cho gỗ trong lĩnh vực đóng tàu nói chung và tàu cá nói riêng là vấn đề rất cần thiết. Vật liệu composite ngày càng đƣợc sử dụng rộng rãi trong việc chế tạo tàu thuyền du lịch, tàu đánh cá, tàu vận tải cỡ nhỏ ven sông biển. Qua thực tế sử dụng cho thấy, nhƣợc điểm cần đƣợc khắc phục đối với tàu thuyền loại này là độ rung và độ ồn lớn hơn nhiều so với tàu thuyền cùng cỡ có vỏ bằng gỗ hoặc thép.
Khắc phục đƣợc nhƣợc điểm này thì tàu thuyền đƣợc làm từ vật liệu composite sẽ có nhiều ƣu điểm vƣợt trội (nhẹ, độ bền riêng cao, chịu môi trƣờng ẩm, mặn, chịu hà tốt, độ bóng bề mặt cao, dễ tạo dáng) so với tàu thuyền cùng loại làm từ gỗ và thép. Để khắc phục đƣợc nhƣợc điểm trên cần phải thực hiện đo rung động của tàu, phân tích, đánh giá so với các tiêu chuẩn, từ đó là cơ sở cho các quy trình giảm rung ồn đối với từng tàu thuyền. Đề tài này tập trung đo đạc và phân tích rung động trên một tàu cụ thể làm bằng vật liệu composite, là bƣớc rất quan trọng để đƣa ra thực trạng rung động khi vận hành thực tế để đƣa ra các giải pháp điều chỉnh tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 TỔNG QUAN Tàu là một cơ hệ bao gồm nhiều thành phần kết cấu và cơ khí (máy, thiết bị trên tàu), chịu kích động bởi một tổ hợp các loại tải trọng động phức tạp có chu kỳ và không chu kì có cƣờng độ tăng lên đáng kể theo độ khốc liệt của sóng biển và các chế độ vận hành khác nhau.
Đáp ứng của toàn bộ các hệ kết cấu và các thành phần máy, cơ khí của tàu đối với một dải rộng các lực kích động và với các hệ số giảm chấn nhỏ, thƣờng đặt các nhà thiết kế trƣớc các vấn đề rất nan giải. Mặc dù các kết quả nghiên cứu về rung động thƣờng cũng đƣợc hƣớng dẫn áp dụng trong quá trình thiết kế và chế tạo tàu, nhƣng nhiều nguyên nhân tiềm ẩn vẫn có thể gây ra các vấn đề rung động trên tàu một cách nghiêm trọng. Sự xuất hiện các vấn đề nhƣ vậy khi một con tàu đƣợc hạ thuỷ là chuyện không hiếm. Hơn thế, các vấn đề bảo dƣỡng có thể phát sinh trong quá trình vận hành tàu là chuyện bình thƣờng.
Tàu compostie là loại tàu có vỏ và kết cấu thân tàu làm từ vật liệu composite, do các đặc tính của vật liệu này (độ cứng kém vật liệu thép và độ giảm chấn kém vật liệu gỗ) nên vấn đề rung ồn của tàu loại này cần đƣợc quan tâm giải quyết. Trên thực tế cũng đã xuất hiện những con tàu vỏ compostie có mức rung ồn vƣợt xa các tiêu chuẩn cho phép. Luận văn chủ yếu tập trung vào việc đo đạc và phân tích rung động của một tàu làm bằng composite là tàu Cồn Cỏ 01, gồm có 3 phần chính phân thành 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở phƣơng pháp đo đạc thực nghiệm về rung động – trình bày về các khái niệm, nguyên lý cơ bản của hệ thống đo rung, đƣa ra cơ sở phƣơng pháp đo thực nghiệm. - Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết rung động của tàu thủy – tập trung vào các lý thuyết rung động trên tàu thủy, bao gồm: các thành phần cấu tạo tàu, các nguồn gây rung động và các khả năng rung động có thể có.
Từ đó phục vụ cho việc đo đạc thực tế. Chƣơng 3: Đo đạc tại hiện trƣờng – tiến hành đo đạc trên 1 tàu thực, phân tích các kết quả, so sánh đánh giá với các tiêu chuẩn quốc tế hiện hành và đƣa ra các kết luận. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Chƣơng 1. CƠ SỞ PHƢƠNG PHÁP ĐO ĐẠC THỰC NGHIỆM VỀ RUNG ĐỘNG 1.
Các khái niệm cơ bản về rung động Dao động điều hòa Lò xo A t VTCB x T Hình 1. Dao động điều hòa. Phƣơng trình dao động: x = Asin(2ft + ). trong đó: A – biên độ dao động (m).
T – chu kỳ dao động (s). f=1/T – tần số dao động (Hz). Quan hệ giữa chuyển vị, vận tốc, gia tốc của dao động điều hòa =t=2ft. V V cosθ 2r Q P P r r r P x θ 2rsinθ θ θ t O O O x = rsin v = (r2- x2)1/2 a = - 2 x Hình 1.
Quan hệ giữa chuyển vị, vận tốc, gia tốc. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Quan hệ về pha của chuyển vị, vận tốc, gia tốc của dao động điều hòa 0 x chuyển vị: x=rsin. 900 3600 v vận tốc: v=Vsin(+/2). 0 0 0 90 360 0 3600 a gia tốc: a=2rsin(+).
Quan hệ về pha của chuyển vị, vận tốc, gia tốc. Các đại lƣợng thƣờng đƣợc dùng - Các giá trị đỉnh (peak) x=Xpeaksin(2ft) = Xpeaksin(t). - Các giá trị trung bình (TB) 2 T/2 X TB x dt. T 0 - Các giá trị RMS (Root Mean Square) 1T 2 T 0 X RMS x dt.
Quan hệ giữa các đại lƣợng của dao động điều hòa 2 X TB X peak. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Các hệ số đặc trƣng X RMS Hệ số dạng (form factor): Ff . X TB X RMS Hệ số nhấp nhô (Crest factor): Fc . X peak Với dao động điều hòa: Ff 1.
2 Tổ hợp các dao động – phổ biên độ/tần số x1=A1sin(2f1t). Tổ hợp các dao động. Phân tích Fourier: mỗi tín hiệu rung động thƣờng là tổ hợp của nhiều thành phần dao động điều hòa, phép phân tích Fourier cho phép tách riêng từng thành LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 phần đao động điều hòa đó.5a0+a1cost+ a2cos2t+…+ ancosnt + b1cost+ b2cos2t+…+ bncosnt. Trong đó: 2 / 1 2 / 1 0 0 an x cos nt.
Thiết bị đo rung động Một hệ thống đo rung động cơ bản có sơ đồ nhƣ hình 1 dƣới đây: Đối tượng rung động Đầu đo - Đầu đo gia tốc - Đầu đo vận tốc - Đầu đo chuyển vị Khối thu thập Nguồn cấp - Khuếch đại - AC - Lọc cứng - DC - Vi, tích phân cứng - Chuyển đổi A/D Lưu trữ & phân tích - Lưu trữ, hiển thị - Xử lí, phân tích Hình 1. Hệ thống đo rung động cơ bản. Nguyên lý cơ bản của hệ thống đo rung là chuyển năng lƣợng cơ học từ đối tƣợng rung động thành năng lƣợng điện bằng đầu đo rung, sau đó nó đƣợc khuếch đại rồi chuyển vào thiết bị xử lý, phân tích và hiển thị. Mô hình cơ học và nguyên lý cơ bản của các đầu đo rung Đầu đo rung có thể đƣợc mô hình hóa nhƣ hệ dao động 1 bậc tự do: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Ở đây u(t) là tín hiệu rung động đầu vào cần đo, r(t) là tín hiệu đầu ra. Mô hình cơ học đầu đo rung. Khảo sát tƣơng quan giữa m, c, k ta sẽ có nguyên lý các loại đầu đo: Chuyển vị mr( t ) cr( t ) kr ( t ) mr( t ) mu( t ), r ( t ) u ( t ). r = f(u): tín hiệu đầu ra là hàm của chuyển vị, nên ta có nguyên lý của đầu đo chuyển vị.
Vận tốc cr( t ) mr( t ) kr ( t ) m 1 cr( t ) mu( t ), r ( t ) u ( t ) u ( t ). c 20 r = f( u ): tín hiệu đầu ra là hàm của vận tốc, nên ta có nguyên lý của đầu đo vận tốc. Gia tốc: kr ( t ) mr( t ) cr( t ) m 1 kr ( t ) mu( t ), r ( t ) u( t ) 2 u( t ). k 0 r = f( u ): tín hiệu đầu ra là hàm của gia tốc, nên ta có nguyên lý của đầu đo gia tốc.
Sau đây tôi sẽ trình bày nguyên lý cơ bản của đầu đo gia tốc, là loại đầu đo rung thông dụng và phổ biến nhất hiện nay. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đầu đo gia tốc Các loại đầu đo gia tốc Dựa vào nguyên lý cơ bản nhƣ đã trình bày ở trên (r = f( u )), ngƣời ta đã chuyển năng lƣợng cơ học thành năng lƣợng điện bằng cách sử dụng một loại vật liệu áp điện (hình 1.7), khi chịu một lực tác dụng thì nó sẽ sinh ra một điện tích, điện tích này tỷ lệ thuận với gia tốc vào của đầu đo (gia tốc cần đo).7 Vật liệu áp điện. Dựa vào kiểu hoạt động thì có thể phân ra 2 loại đầu đo gia tốc là đầu đo điện tích và đầu đo điện áp: - Đầu đo điện tích bên trong chỉ có phần tử cảm ứng (áp điện) mà không có gắn các mạch điện.
Đặc điểm của loại đầu đo này là đầu ra là tín hiệu điện tích có điện trở cao. Khi đó giữa đầu đo và thiết bị thu thập tín hiệu phải dùng một bộ khuếch đại điện tích hoặc một bộ chuyển đổi điện tích để chuyển tín hiệu điện tích đầu ra thành tín hiệu điện áp có điện trở thấp. Các đầu đo điện tích đƣợc dùng trong các đối tƣợng có nhiệt độ cao nhƣ giám sát các đƣờng ống của máy, động cơ và các tua bin nhiệt. Để giảm hiệu ứng nhiễu của tín hiêu đầu ra (do điện trở cao) ngƣời ta dùng cáp đồng trục nối giữa đầu đo và bộ khuếch đại điện tích.
- Đầu đo điện áp ngoài phần tử cảm ứng (áp điện) nó còn đƣợc tích hợp mạch điện tử bên trong để chuyển đổi tín hiệu điện tích có điện trở cao thành tín hiệu điện áp có điện trở thấp, tín hiệu này có thể đƣợc truyền một cách dễ dàng qua các cáp đồng trục hoặc cáp có lõi 2 dây thông thƣờng. Do điện trở thấp nên tín hiệu có thể đƣợc truyền qua các cáp dài và đƣợc dùng nhiều trong công nghiệp. Do bộ khuếch đại tích hợp ngay bên trong nên chúng không cần dùng những loại cáp nhiễu thấp hoặc các bộ khuếch đại ngoài trƣớc các thiết bị thu thập tín hiệu.