Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Tổng quan lý thuyết về rủi ro tín dụng và các nghiên cứu trước. 123doc 4 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Thực trạng tín dụng nông hộ tại ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt chi nhánh Hậu Giang.
Chương 5: Kết quả nghiên cứu và thảo luận về các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng nông hộ ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt chi nhánh Hậu Giang. Chương 6: Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng nông hộ Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt Chi Nhánh Hậu Giang. Chương 7: Kết luận và kiến nghị. 123doc 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC LÝ THUYẾT RỦI RO TÍN DỤNG NÔNG HỘ VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương này sẽ trình bày tổng hợp những tài liệu có liên quan đến rủi ro tín dụng nhằm làm cơ sở lý luận đề xuất mô hình nghiên cứu và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng.1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT RỦI RO TÍN DỤNG 2.1 Khái niệm và phân loại rủi ro tín dụng 2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Trong nền kinh tế thị trường, cấp tín dụng là chức năng kinh tế cơ bản của ngân hàng.
Rủi ro trong ngân hàng có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục tín dụng. Đây là rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra. Khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng, thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạt động tín dụng của ngân hàng. Rủi ro tín dụng là một tình trạng bất ổn hay một sự không chắc chắn.
Tuy nhiên, không phải sự không chắc chắn nào cũng là rủi ro. Những tình trạng không chắc chắn nào chưa từng xảy ra và không thể ước tính được xác suất xảy ra thì được xem là sự bất trắc chứ không phải là rủi ro. Chỉ có những tình trạng không chắc chắn nào có thể ước đoán được các xác suất xảy ra mới được xem là rủi ro Trong lĩnh vực kinh tế, theo Bernard Manson (1992), “Rủi ro là tác động của những biến cố xảy ra trong tương lai lên giá trị ròng của một chủ thể kinh tế hoặc một danh mục tài sản mà khả năng xảy ra biến cố đó có thể dự đoán trước nhưng không thể dự đoán chính xác biến cố đó sẽ xảy ra như thế nào”. Rủi ro thường được đo lường bằng sự khác biệt giữa giá trị thực tế và giá trị kỳ vọng.
Rủi ro là vấn đề tất yếu không thể loại trừ và gắn liền với các hoạt động kinh doanh của bất kỳ một tổ chức doanh nghiệp nào. Theo Hiệp ước Basel, RRTD là rủi ro do tính không chắc chắn về khả năng hay sự sẵn sàng của đối tác trong việc đáp ứng các nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng. Theo Lê Văn Tư (2005), RRTD được định nghĩa là khả năng một khách hàng vay hoặc một đối tác không hay không thể thực hiện nghĩa vụ đã thoả thuận dẫn đến việc các khoản cho vay hay các khoản phải thu của ngân hàng giảm giá trị hoặc không thu hồi được. 123doc 6 Theo Nguyễn Văn Tiến (1999), RRTD được định nghĩa là tình hình tài chính khách hàng yếu không khả năng trả nợ làm cho ngân hàng phát sinh các khoản lỗ vốn có được tạo ra khi cấp tín dụng cho khách hàng.
Nguyễn Minh Kiều (2012) đã đề cập đến phân tích nguồn gốc rủi ro tín dụng thì có hai nguồn gốc: Từ phía khách hàng và từ phía ngân hàng. + Từ khách hàng: nguyên nhân chủ quan là do khách hàng vay có trình độ hiểu biết kém hoặc thiếu thiện chí trả nợ. Nguyên nhân khách quan là do sự thay đổi hay nhu cầu của thị trường, sự thay đổi về pháp lý hay chính sách của Chính phủ khiến tình hình tài chính khách hàng khó khăn không khắc phục được. + Nguyên nhân từ ngân hàng: rủi ro giao dịch là rủi ro mà phát sinh từ sai sót ở khâu định giá, thẩm định và xem xét duyệt cho vay, hoặc phát sinh ở khâu kiểm tra sử dụng vốn, sơ hở ở khâu đảm bảo và cam kết ràng buộc trong hợp đồng tín dụng.
Rủi ro tại danh mục tín dụng là rủi ro liên quan đến việc cho vay có tài sản đảm bảo hay không có tài sản đảm bảo, do lãi suất cao nên chỉ tập trung cho vay vào các dự án có rủi ro cao. Theo Viện nghiên cứu khoa học ngân hàng (1998), Rủi ro trong hoạt động tín dụng là tình trạng người đi vay không có khả năng hoàn trả được lãi hoặc gốc hay cả hai. Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN Việt Nam, RRTD trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết và khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng. Từ các định nghĩa trên ta có thể thấy rằng RRTD là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay của ngân hàng, biểu hiện qua việc người đi vay không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng.
Các ngân hàng sẽ ảnh hưởng RRTD nếu muốn thu lại được cả gốc và lãi của các khoản cho vay đúng thời hạn, ngược lại nếu người vay đang gặp khó khăn về tài chính hoặc người vay có khả năng nhưng không có thiện chí trả nợ thì tất cả gốc và lãi khoản vay trong tình trạng rủi ro không khả năng thu hồi được. Như vậy, rủi ro tín dụng là rủi ro trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trong thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. 123doc 7 Đối với các nước đang phát triển và các ngân hàng thiếu đa dạng hóa trong kinh doanh các dịch vụ tài chính, vì vậy tín dụng được xem là dịch vụ sinh lời chủ yếu, đặc biệt đối với các ngân hàng có quy nhỏ. Vì vậy rủi ro tín dụng cao hay thấp nó sẽ quyết định hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.2 Phân loại nhóm nợ Trong đề tài này, RRTD sẽ được đo lường thông qua chất lượng các khoản vay thể hiện bằng trạng thái nhóm nợ mà các khoản vay được phân loại theo quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Theo quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 của Thống đốc NHNN Việt Nam thì các khoản cho vay của các NHTM sẽ được phân vào năm (05) nhóm là: - Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: + Các khoản nợ trong hạn và các TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn; + Các khoản nợ quá hạn <10 ngày và TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại; + Các khoản nợ quá hạn nhưng khách hàng đã thanh toán đầy đủ phần nợ gốc, lãi bị quá hạn và nợ gốc và lãi của các kỳ hạn trả nợ tiếp theo trong thời gian tối thiểu sáu (06) tháng đối với các khoản nợ trung và dài hạn, ba (03) tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn; đồng thời có tài liệu, hồ sơ minh chứng các nguyên nhân làm khoản nợ bị quá hạn đã được xử lý, khắc phục và tổ chức tín dụng có đầy đủ cơ sở đánh giá là khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại. + Các khoản nợ được cơ cấu lại kỳ hạn trả nợ nhưng khách hàng đã trả đầy đủ nợ gốc, lãi theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại trong thời gian tối thiểu sáu (06) tháng đối với các khoản nợ trung, dài hạn, ba (03) tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc, lãi theo thời hạn được cơ cấu lại; đồng thời có tài liệu, hồ sơ chứng minh tất cả các nguyên nhân làm khoản nợ phải cơ cấu lại thời hạn trả nợ đã được xử lý, khắc phục và tổ chức tín dụng có đủ cơ sở pháp lý để đánh giá là khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn đã được cơ cấu lại. + Các khoản nợ khác của cùng một khách hàng bị liên đới. - Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: + Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày.
+ Các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu tiên, trừ các khoản nợ đã điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu đã được phân loại vào nhóm 2. + Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng vay không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; + Các khoản nợ khác của cùng một khách hàng bị liên đới. - Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: + Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày. + Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ gốc, lãi được cơ cấu lại lần đầu.
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với lần thứ hai. + Các khoản nợ khác của cùng một khách hàng bị liên đới. - Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: + Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến trên 360 ngày. + Các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.
+ Các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; + Các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; + Các khoản nợ khoanh và nợ chờ xử lý; + Các khoản nợ khác của cùng một khách hàng bị liên đới. Như vậy chất lượng các khoản vay sẽ được chia thành năm (05) mức theo cách phân nhóm nợ với nhóm 1 là những khoản vay tốt nhất và nhóm 5 là những khoản vay 123doc 9 xấu nhất. Rủi ro tín dụng sẽ tỷ lệ nghịch với chất lượng khoản vay với nhóm 1 là những khoản vay có rủi ro thấp nhất và nhóm 5 là những khoản vay có rủi ro cao nhất. Theo quy định của NHNN Việt Nam thì tỷ lệ trích lập dự phòng đối với các nhóm nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5 theo thứ tự lần lượt là 0%, 5%, 20%, 50% và 100%.