LỜI MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Các ngân hàng hiện nay đang đƣơng đầu với rất nhiều rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình, vì vậy các nhà quản trị đứng trƣớc sức ép tạo ra lợi nhuận ngày càng nhiều và làm sao giá trị ngân hàng đặc biệt là giá trị tài sản của cổ đông, những ngƣời chủ sở hữu của ngân hàng là cao nhất. Để làm đƣợc điều đó, nhà quản trị phải luôn có những quyết định quan trọng để định hƣớng ngân hàng đi theo hƣớng tốt nhất. Một trong các quyết định quan trọng đó là quyết định về cấu trúc vốn (CTV).
Trên thế giới đã có rất nhiều bài nghiên cứu về CTV của ngân hàng nhƣ: bài nghiên cứu của Sajid Gul, Muhammad Bital Khan, Nasir Razzad và Naveed Saif tại Pakistan chỉ ra rằng các nhân tố tỷ suất lợi nhuận, tài sản hữu hình và tính thanh khoản có tác động ngƣợc chiều lên đòn bẩy tài chính của ngân hàng, các nhân tố quy mô và tăng trƣởng tác động cùng chiều lên đòn bẩy tài chính còn nhân tố tấm chắn thuế phi nợ không có ý nghĩa thống kê, bài nghiên cứu của Khizer Ali, Muhammad Farhan Akhtar và Shama Sadaqat có kết quả biến tỷ suất lợi nhuận và tính thanh khoản tác động ngƣợc chiều lên đòn bẩy tài chính, đối với các biến quy mô ngân hàng và tấm chắn thuế phi nợ tác động cùng chiều lên đòn bẩy tài chính, đối với biến tài sản hữu hình không có ý nghĩa thống kê và nhiều bài nghiên cứu khác nhƣ của Mohammde Amidu về Xác định CTV của ngân hàng ở Ghana: Phƣơng pháp tiếp cận thực nghiệm, của Reint Gropp and Florian Heider (2009) về Xác định CTV của ngân hàng … Tuy nhiên hiện nay tại Việt Nam lại có rất ít bài nghiên cứu về CTV của ngân hàng, có phải do quan niệm các ngân hàng là ngành kinh doanh tiền tệ đƣợc sự quản lý chặt chẽ của Ngân hàng Nhà Nƣớc nên nguy cơ dẫn đến phá sản là thấp. Trƣớc tình hình của các ngân hàng trên thế giới và đặc biệt của các ngân hàng Việt Nam trong thời gian qua cho thấy sự suy giảm khả năng thanh khoản của các ngân hàng chẳng những gây ảnh hƣởng rất lớn đến tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng mà còn gây 123doc 2 ra hệ lụy rất xấu trong nền kinh tế dẫn đến ngƣời dân mất lòng tin vào hệ thống tài chính của đất nƣớc và ảnh hƣởng tiêu cực tiêu cực đến tình hình kinh tế. Chính cơ sở này đã đặt ra vấn đề cho các nhà nghiên cứu tại Việt Nam xem liệu các nhân tố của các nhà nghiên cứu trên thế giới có tác động đến CTV của các các ngân hàng thƣơng mại (NHTM) Việt Nam hay không và chiều hƣớng tác động nhƣ thế nào? Xuất phát từ các vấn đề trên tác giả đã chọn đề tài “PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC NHTM Ở VIỆT NAM TRONG GIA ĐOẠN TỪ 2007 – 2011” làm luận văn tốt nghiệp để nhằm làm sáng tỏ hơn các lý thuyết về cấu trúc vốn và giúp các NHTM Việt Nam trong việc hoạch định CTV cho mình 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các NHTM Việt Nam.
Trên cơ sở đó, bài này sẽ tập trung trả lời cho các câu hỏi sau: Thực tiễn cấu trúc vốn của các NHTM tại Việt Nam? Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn tại các NHTM Việt Nam, chiều hƣớng và tác động nhƣ thế nào? Mô hình định lƣợng nào để nhận diện các tác động này? 3. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài này là các các nhân tố tác động đến cấu trúc của NHTM của Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2011. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Tác giả chỉ nghiên cứu các NHTM của Việt Nam không nghiên cứu các ngân hàng liên doanh, ngân hàng nƣớc ngoài. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Để trả lời những vấn đề trên đề tài sử dụng các lý thuyết kinh tế, tài chính của các nhà nghiên cứu trên thế giới để phân tích cùng với việc sử dụng phƣơng pháp định lƣợng là thống kê mô tả kết hợp phƣơng pháp bình phƣơng bé nhất (OLS) để chạy mô hình hồi qui tuyến tính đa biến và sử dụng các kiểm định Anova và kiểm định hiện tƣợng đa cộng tuyến để xác định các nhân tố tác động đến CTV của các NHTM Việt Nam.
Chƣơng trình sử dụng để chạy mô hình định lƣợng là SPSS 20. BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI Đề tài gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về cấu trúc vốn. Chƣơng 2: Cơ sở nghiên cứu về cấu trúc vốn của các ngân hàng thƣơng mại tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2007 - 2011 Chƣơng 3: Phân tích các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các ngân hàng thƣơng mại tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2007 - 2011 Chƣơng 4: Kết luận và kiến nghị 123doc 4 CHƢƠNG 1 CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CẤU TRÚC VỐN NGÂN HÀNG 1.1 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI Việc vận dụng và kiểm tra tính thực tiễn các lý thuyết cổ điển và hiện đại về cấu trúc vốn nhƣ: lý thuyết cấu trúc vốn không ảnh hƣởng đến giá trị doanh nghiệp của Modigliani và Miller (1958), Modigliani và Miller (1963); lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn; lý thuyết trật tự phân hạng của Myers và Majluf (1984); lý thuyết chi phí đại diện của Jensen và Meckling…đã đƣợc thực hiện tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ gần đây là khá phổ biến. Bên cạnh một số nghiên cứu thực nghiệm cho kết quả tán đồng với các lý thuyết trên, vẫn còn nhiều kết quả nghiên cứu trái chiều nhau.
Để giúp cho phần nghiên cứu đƣợc hiệu quả và tìm hiểu đƣợc các yếu tố tác động lên CTV của NHTM Việt Nam, tác giả đã tìm hiểu một số công trình nghiên cứu thực nghiệm ở các nƣớc đang phát triển trên thế giới tƣơng đối phù hợp với Việt Nam. Tác giả đã tìm đƣợc ba công trình nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và một bài nghiên cứu ở Việt Nam về các nhân tố tác động đến CTV của ngân hàng để có thể tìm các nhân tố ảnh hƣởng đến CTV ngân hàng mang tính đại diện và có thể ứng dụng vào phân tích tại các NHTM Việt Nam. Cụ thể, các công trình nghiên cứu đƣợc tác giả tóm lƣợc nhƣ sau: Công trình nghiên cứu của Sajid Gul, Muhammad Bital Khan, Nasir Razzad và Naveed Saif về “Ảnh hƣởng của đặc điểm doanh nghiệp tới CTV trong các lĩnh vực ngân hàng và Bảo hiểm tại Pakistan”. Công trình nghiên cứu này dựa trên quy mô mẫu của hơn 22 ngân hàng và 24 công ty bảo hiểm đƣợc niêm yết trên “Sở giao dịch chứng khoán Karachi” từ năm 2000 đến năm 2009.
Để đánh giá tác động của các 123doc 5 nhân tố lên CTV ngân hàng, công trình nghiên cứu đã sử dụng mô hình hồi quy nhƣ sau: DRi,t = α+ β1SIZEi,t+ β2GROWTHi,t+β3NDTSi,t+β4LIQUIDITYi,t + β5TANGi,t + β5PROFi,t + εi,t (1.1) Trong đó: Biến đại diện cho CTV là đòn đòn bẩy tài chính (biến phụ thuộc) và đƣợc đo lƣờng: Đòn bẩy tài chính (DR) = Tổng Nợ/Tổng tài sản (trong đó đòn bẩy tài chính đƣợc tính theo giá trị sổ sách). Các nhà nghiên cứu trên cho rằng đòn bẩy tài chính là tổng nợ trên tổng tài sản bởi vì cấu trúc vốn là tổ hợp các yếu tố của nợ và vốn cổ phần của công ty đƣợc doanh nghiệp sử dụng để tạo vốn cho các tài sản của mình, việc tìm ra đƣợc một tỷ lệ phù hợp giữa việc sử dụng nợ và vốn chủ sở hữu để tài trợ cho tài sản sẽ giúp cho các doanh nghiệp phải đối mặt với các vấn đề phá sản và khủng hoảng tài chính. Và công trình nghiên cứu sử dụng các nhân tố tác động lên CTV ngân hàng (biến độc lập) là: Biến Lợi nhuận (Profitability) đƣợc tính bằng tỷ suất lợi nhuận = lợi nhuận trƣớc thuế/ tổng tài sản. Biến Quy mô (Size) = logarit của tổng tài sản.
Biến tăng trƣởng (Growth) = (Tổng tài sản (năm t1) - Tổng tài sản (năm t0))/Tổng tài sản (năm t0) Biến tính thanh khoản (Liquidity) = Tài sản ngắn hạn/nợ ngắn hạn Tài sản hữu hình (Tangibility of assets) = Tài sản cố định/Tổng tài sản Biến tấm chắn thuế phi nợ (Non deb tax shield) = Khấu hao tài sản /Tổng tài sản Để đánh giá tác động của biến độc lập lên biến phụ thuộc, công trình nghiên cứu đã sử dụng mô hình hồi quy bình phƣơng nhỏ nhất kết quả công trình chứng minh rằng các biến độc lập có ảnh hƣởng lên biến phụ thuộc đại diện cho CTV của ngân hàng. Và hƣớng tác động cụ thể nhƣ sau: 123doc 6 Đối với các biến Lợi nhuận (Profitability), tài sản hữu hình (Tangibility of assets) và Tính thanh khoản (Liquidity) tác động ngƣợc chiều lên đòn bẩy tài chính với mức ý nghĩa trong tất cả các mô hình là nhỏ hơn 5%. Đối với các biến Quy mô (size) và Tăng trƣởng (Growth) tác động cùng chiều lên đòn bẩy tài chính với mức ý nghĩa trong các mô hình là nhỏ hơn 5%. Đối với biến tấm chắn thuế phi nợ (Non deb tax shield) không có ý nghĩa thống kê khi đánh giá tác động lên đòn bẩy tài chính Công trình nghiên cứu của Khizer Ali, Muhammad Farhan Akhtar và Shama Sadaqat về “Ý nghĩa thực tiễn của lý thuyết CTV: bằng chứng thực nghiệm từ NHTM tại Pakistan”.
Công trình nghiên cứu này dựa trên quy mô mẫu của 10 ngân hàng là 5 ngân hàng Đạo hồi và 5 ngân hàng truyền thống (đây chủ yếu là các ngân hàng nhà nƣớc) từ năm 2006 đến năm 2009. Để đánh giá tác động của các nhân tố lên CTV ngân hàng, công trình nghiên cứu cũng đã sử dụng biến đại diện cho CTV là đòn đòn bẩy tài chính (biến phụ thuộc) và đƣợc đo lƣờng: Đòn bẩy tài chính (LEV) = Tổng Nợ/Tổng tài sản (trong đó đòn bẩy tài chính đƣợc tính theo giá trị sổ sách).