Chương 1: Tổng quan Phần này giới thiệu tổng quan, nhiệm vụ của đồ án, giúp chúng ta hiểu nội dung căn bản của đồ án - Chương 2: Cơ sở lý thuyết Phần này sẽ giới thiệu cụ thể về khái niệm Buffer overflow, kiến trúc xử lý và phân tích khi xảy ra lỗi. - Chương 3: Kết quả thực nghiệm Phần này sẽ cho chúng ta thấy mô hình mục tiêu úng dụng, giới thiệu các công cụ để thực hiện và phân tích tràn bộ đệm bằng gdb-gef. - Chương 4: Kết luận và hướng phát triển của đồ án Phần này sẽ rút ra những lưu ý và lời khuyên và đưa ra hướng phát triển để bảo mật tốt hơn. 1 CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU VỀ AN NINH MẠNG 2.2 TÌNH HÌNH AN NINH MẠNG THẾ GIỚI: Theo số liệu của CERT (Computer Emegency Response Team - "Đội cấp cứu máy tính"), số lượng các vụ tấn công trên Internet được thông báo cho tổ chức này là ít hơn 200 vào năm 1989, khoảng 400 vào năm 1991, 1400 vào năm 1993, và 2241 vào năm 1994, và năm 2001 là 5315 vụ.
Những vụ tấn công này nhằm vào tất cả các máy tính có mặt trên Internet, các máy tính của tất cả các công ty lớn như AT&T, IBM, các trường đại học, các cơ quan nhà nước, các tổ chức quân sự, nhà băng. Một số vụ tấn công có quy mô khổng lồ (có tới 100.000 máy tính bị tấn công). Hơn nữa, những con số này chỉ là phần nổi của tảng băng. Một phần rất lớn các vụ tấn công không được thông báo, vì nhiều lý do, trong đó có thể kể đến nỗi lo bị mất uy tín, hoặc đơn giản những người quản trị hệ thống không hay biết những cuộc tấn công đang nhằm vào hệ thống của họ.
Điển hình là cuộc tấn công vào phần mềm thương mại của IBM tháng 3/2001, hai hacker đã tìm thấy lỗ hổng trên ứng dụng mà bất cứ ai với một trình duyệt Web cũng có thể lấy tài khoản của người dùng, thậm chí cả người quản trị. Không chỉ số lượng các cuộc tấn công tăng lên nhanh chóng, mà các phương pháp tấn công ngày càng tinh vi và có tổ chức. Mặt khác, việc quản trị các hệ thống mạng đòi hỏi nhà quản trị hệ thống có kiến thức và kinh nghiệm về hệ thống mạng chắc chắn, do đó sự yếu kém trong quản lý sẽ tạo nhiều điều kiện cho các hacker khai thác. Cũng theo CERT, những cuộc tấn công thời kỳ 1988-1989 chủ yếu là đoán tên người sử dụng-mật khẩu (UserID/password) hoặc sử dụng một số lỗi của các chương trình và hệ điều hành (security hole) làm vô hiệu hệ thống bảo vệ, tuy nhiên các cuộc tấn công vào thời gian gần đây còn bao gồm cả các thao tác như giả mạo địa chỉ IP, theo dõi thông tin truyền qua mạng, chiếm các phiên làm việc từ xa 2 (telnet hoặc rlogin), cài trojan hay worm để kiểm soát hay điều khiển máy tính…vì thế, nhu cầu bảo vệ thông tin trên Internet là cần thiết nhằm mục đích bảo vệ dữ liệu, bảo vệ thông tin người dùng và bảo vệ hệ thống.
Khi nói đến vấn đề bảo mật, hầu hết các chuyên gia bảo mật đều chú trọng đến sự an toàn của hệ thống mạng và hệ điều hành. Để bảo vệ cho hệ thống, phương pháp thường được chọn là sử dụng firewall. Tuy nhiên, theo tuyên bố của CSI/FBI: 78% nơi bị hại có sử dụng firewall và 59% thì bị tấn công thông qua Internet, cụ thể hơn là theo báo cáo của CSI/FBI Computer Crime và Security Survey thì tổng số thiệt hại do những ứng dụng Web bị tấn công từ năm 1997 đến năm 2000 là 626 triệu đôla Mỹ.2 TÌNH HÌNH AN NINH MẠNG TẠI VIỆT NAM: Khi tốc độ ứng dụng công nghệ thông tin và phổ cập Internet được đẩy nhanh, đời sống thực ngày càng gần như phụ thuộc vào đời sống ảo trên mạng thì vấn đề an ninh mạng càng cần được coi trọng và đặt ở tầm an ninh quốc gia. Môi trường internet tại Việt Nam hiện có nhiều yếu tố gây mất an toàn như không có cơ chế định danh người dùng, khó kiểm soát các giao tiếp và thiếu sự phối hợp, giám sát giữa các tổ chức quản lý internet.
Điều này dẫn tới sự bùng nổ của các hành vi: lấy cắp tài khoản, viết và phát tán virus máy tính, tấn công website…, mang lại nhiều nguy cơ tiềm tàng cho an ninh mạng 2.13 Thiếu nhận thức, nhân lực và đầu tư: An ninh mạng là một vấn đề mới đối với đa số người sử dụng máy tính. Những công ty lập trình website cũng chưa ý thức đầy đủ về vấn đề này. Ở công ty nước ngoài, mỗi lập trình viên sau khi tuyển dụng phải qua một khoá đào tạo lập trình đặc biệt về an ninh mạng. Tìm được công ty thiết kế website ở Việt Nam làm điều này rất khó.
Việc đầu tư thời gian và công sức vào bảo mật có thể làm chậm tiến độ triển khai dự án, hiệu quả lại khó kiểm chứng. Tuy đã được các chuyên gia máy tính liên tục cảnh báo nhưng nhận thức về nguy cơ, tính rủi ro và hậu quả của 3 tình trạng mất an ninh mạng vẫn chưa được quan tâm tìm hiểu đúng mức. Tình trạng lơ là, mất cảnh giác đối với nguy cơ virus tấn công các trang web xảy ra khá phổ biến trong giới quản trị website, thậm chí ngay cả đối với website của các doanh nghiệp CNTT. Rất nhiều website tồn tại các lỗ hổng có thể trở thành mục tiêu cho tin tặc, trong đó có những website có nội dung hết sức quan trọng liên quan đến chính phủ điện tử, thương mại điện tử, doanh nghiệp điện tử… Theo thống kê của Trung tâm An ninh mạng ĐHBK Hà Nội (BKIS) thì có khoảng 400 website luôn đặt trong tình trạng nguy hiểm, trong đó có website của các cơ quan nhà nước, các công ty và ngân hàng.
Trung bình mỗi tháng, trung tâm BKIS phát hiện trên dưới hai chục trang web bị hacker tấn công, trong đó có cả trang web của những công ty tên tuổi như Viettel, VDC hay MobiFone. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp đang phải đương đầu với sự thiếu hụt về nhân lực CNTT và hiểu biết về tội phạm mạng. Hiện nay, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam chưa có sự đầu tư đúng mức về công nghệ bảo mật cũng như về con người do chi phí cho lĩnh vực này khá cao. BKIS cho biết, các lổ hổng bảo mật trên các trang web của Việt Nam phần lớn là do các công ty viết phần mềm chưa quan tâm đến an toàn hệ thống và đầu tư cho an ninh mạng chưa đủ ngưỡng.
Người quản trị mạng chưa làm tốt công việc của mình: đặt mật khẩu yếu, mở nhiều dịch vụ không cần thiết; các doanh nghiệp và tổ chức ở Việt Nam thường đầu tư dưới 10% chi phí CNTT cho bảo mật - một tỷ lệ dưới mức đảm bảo an toàn cho hệ thống thông tin.13 Tình hình tội phạm: “An toàn mạng” ngày nay không chỉ trong phạm vi khái niệm an ninh mạng (network security) vốn dành cho những đối tượng chuyên nghiệp mà quan trọng hơn là bảo vệ các ứng dụng trong hệ thống của doanh nghiệp. Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam hiện chưa có hệ thống bảo mật dữ liệu chuyên nghiệp mà chủ yếu chỉ trang bị vài hệ thống bảo vệ: tường lửa, phần mềm chống virus. Các chuyên gia 4 nhận định rằng: tình hình an ninh trên môi trường mạng ở Việt Nam đang ở tình thế rất đáng ngại khi số lượng và mức độ các loại hình tội phạm ngày càng gia tăng. Có thể chia tội phạm mạng ở Việt Nam thành 2 hai nhóm: tội phạm tấn công trang web, các cơ sở dữ liệu và phát tán virus; và tội phạm lợi dụng môi trường mạng để ăn cắp, tống tiền và tổ chức hoạt động phạm tội, như đánh bạc qua mạng, ăn cắp và làm giả thẻ tín dụng, dùng internet để trộm cước viễn thông.
Cả hai nhóm tội phạm mạng này đều đang tăng cả về lượng và mức độ tác động. Thống kê của BKIS cho thấy, đầu năm 2008, số lượng virus mới tăng hơn rất nhiều so với trước. Tội phạm mạng ở Việt Nam hiện đã chuyển sang mục đích kiếm tiền chứ không còn là thoả mãn niềm ham mê ghi điểm “thành tích” như trước. Về mức độ tinh vi, các phương thức tội phạm mạng ở Việt Nam đang dần tiếp cận với thế giới.
Thế giới có tội phạm gì liên quan đến môi trường mạng thì cũng nhanh chóng có ở Việt Nam. Mới đây, đơn vị chống tội phạm công nghệ cao (C15) thuộc Tổng cục Cảnh sát đã phối hợp với cơ quan chống tội phạm mạng của Anh bắt được một nhóm hacker Việt Nam ăn cắp mật khẩu thẻ tín dụng bán cho một tổ chức tội phạm của Anh. Trước đó, C15 đã bắt được một đường dây hơn 10 sinh viên ăn cắp thẻ tín dụng và làm giả thẻ tín dụng để rút tiền. Trong khi đó, yếu tố chính góp phần làm cho tình hình an ninh mạng ở Việt Nam thêm nghiêm trọng chính là hành lang pháp lý chưa đủ mạnh, hình phạt dành cho tội phạm mạng còn nhẹ, chưa tương xứng với thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra nên chưa đạt mục đích trừng trị người phạm tội, giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội và giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Một bất cập nữa là các quy định liên quan đến tội phạm mạng quá chung chung, không áp dụng được vào các hành vi cụ thể, nhất là các quy định về tội phạm máy tính của bộ luật Hình sự. Các quy định thiếu rõ ràng làm cho các cơ quan lúng túng trong việc xử lý.13 Cần hoàn thiện qui định của pháp luật: 5 Nước ta nên theo xu hướng của thế giới khi quy định về những hành vi liên quan tới tội phạm mạng: các quy định nên trung lập với công nghệ để có thể dễ dàng áp dụng và ban hành các văn bản dưới luật điều chỉnh những hành vi này. Tội phạm mạng có tốc độ phát triển nhanh như tốc độ phát triển của CNTT. Các quy định của pháp luật luôn lạc hậu hơn so với những thay đổi trong môi trường CNTT.
Mặc dù các nhà làm luật đã sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật, nhưng việc sửa đổi các quy định của luật nhất là Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự không thể làm trong một sớm một chiều. Với những văn bản hướng dẫn, việc điều chỉnh sẽ được thực hiện dễ dàng hơn.