Chương 1, tác giả đã lược khảo kết quả các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây về đề tài CBTT tự nguyện của doanh nghiệp nói chung và của các ngân hàng, tóm tắt sơ lược kết quả nghiên cứu và các vấn đề quan trọng trong mỗi bài nghiên cứu. Do đặc thù riêng của từng quốc gia mà có sự khác nhau trong kết luận từ các nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố tác động đến mức độ CBTT tự nguyện tại các doanh nghiệp nói chung cũng như các ngân hàng nói riêng. Điều này dẫn đến phân tích của tác giả về thực trạng mức độ CBTT tự nguyện tại các NHTMCP Việt Nam trong Chương 3, đồng thời là cơ sở giúp tác giả đưa ra các giả thuyết nghiên cứu và xây dựng mô hình nghiên cứu. 11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khái niệm công bố thông tin Tại Việt Nam chưa có khái niệm chính thức nào về công bố thông tin, tuy nhiên, theo “Sổ tay công bố thông tin dành cho các doanh nghiệp niêm yết” của SGDCK Hà Nội thì công bố thông tin là phương thức để thực hiện qui trình minh bạch thông tin của doanh nghiệp nhằm bảo đảm cho các cổ đông và công chúng có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng và đồng thời.2 Phân loại thông tin Theo Citro (2013) công bố thông tin gồm có hai loại Thông tin bắt buộc: là thông tin phải công bố theo qui định của pháp luật và các qui định khác có liên quan đối với các doanh nghiệp, công ty, ngân hàng,… phải được trình bày và công bố theo qui định.
Thông tin tự nguyện: là các thông tin không bắt buộc công bố. Ngân hàng có thể lựa chọn không công bố hoặc công bố nó nhằm thỏa mãn thêm nhu cầu của người sử dụng. Ngày nay vấn đề CBTT tự nguyện ngày càng được khuyến khích vì tầm ảnh hưởng rất quan trọng của nó đối với bản thân các doanh nghiệp, các ngân hàng và các nhà đầu tư. Theo quy định của thông tư số 155/2015/TT-BTC ngày 06/10/2015 hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán bao gồm Công bố thông tin định kỳ: gồm các BCTC năm đã được kiểm toán, BCTC bán niên, BCTC quý.
Công bố thông tin bất thường: các thông tin bất thường theo qui định như vốn góp chủ sở hữu bị giảm từ 10% trở lên; tăng, giảm vốn điều lệ; quyết định đầu tư vào một tổ chức, dự án;… 12 Công bố thông tin theo yêu cầu: là những thông tin công bố theo yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở GDCK nơi tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch, được thực hiện trong trường hợp: - Xảy ra sự kiện ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. - Có thông tin liên quan đến công ty ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán và cần phải xác nhận thông tin đó….3 Yêu cầu công bố thông tin Theo điều 3, mục 1 về nguyên tắc công bố thông tin trong Thông tư 155, và chuẩn mực kế toán - VAS 01: những qui định chung của Bộ Tài Chính (2002), chuẩn mực kế toán số 22: trình bày bổ sung BCTC của các Ngân hàng và Tổ chức tài chính tương tự (Bộ Tài Chính, 2005) nhấn mạnh việc CBTT nhằm đảm bảo tính: đầy đủ, chính xác và kịp thời. Đầy đủ Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến kỳ kế toán phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót. Chính xác Tức là trung thực và khách quan.
Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Đồng thời các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo. Kịp thời Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn qui định, không được chậm trễ. Chẳng hạn công ty đại chúng phải công bố báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tổ 13 chức kiểm toán ký báo cáo kiểm toán nhưng không vượt quá 90 ngày, kể từ ngày kết thúc năm tài chính.4 Sự cần thiết của công bố thông tin Ngày nay, trên thế giới việc CBTT ngày càng phổ biến và được quan tâm vì quyền lợi của cổ đông và các bên có liên quan.
Phản ánh sự đánh giá của xã hội đối với ngân hàng, cho nên việc CBTT sẽ ảnh hưởng đến giá chứng khoán niêm yết và các lợi ích cụ thể đối với từng đối tượng như sau: Đối với nhà quản lý thị trường (SGDCK): là công cụ giúp SGDCK đưa ra thông tin công bố kịp thời, từ đó đánh giá hiệu quả hoạt động, giám sát quá trình phát triển của các ngân hàng, gián tiếp tác động ngược lại trong công tác quản lý, có thể điều chỉnh các hoạt động như cho phép hay hủy bỏ niêm yết, khen thưởng, xử lý vi phạm, là kênh thông tin phục vụ công tác giám sát và quản lý thị trường. Đối với nhà đầu tư: việc CBTT có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tạo lập và duy trì niềm tin cho công chúng. Sự sụp đổ của một số quốc gia và các vụ gian lận được phát hiện đã cảnh tỉnh giới đầu tư về tầm quan trọng của CBTT, các nhà đầu tư tiếp cận thông tin nhanh chóng, kịp thời, chính xác, công bằng và ít gian lận. Thông tin được cung cấp liên tục và đa dạng để từ đó nhà đầu tư nắm bắt nhiều thông tin hơn giúp cho quá trình đưa ra quyết định đầu tư nhanh chóng, hiệu quả.
Đối với bản thân các ngân hàng: việc CBTT phản ánh thực trạng hoạt động của nó một cách trung thực, là công cụ quảng bá thương hiệu, uy tín của mình trên TTCK, ngân hàng hoạt động có hiệu quả giúp nâng cao giá trị cổ phiếu, là tấm gương phản chiếu để bản thân các ngân hàng ngày càng hoàn thiện về mọi hoạt động, phát triển kinh doanh và nâng cao thương hiệu xa hơn nữa.5 Các lý thuyết về công bố thông tin 2.1 Lý thuyết chi phí đại diện Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý làm phát sinh chi phí đại diện. Lý 14 thuyết chi phí đại diện nghiên cứu mối quan hệ giữa bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm thông qua hợp đồng ủy nhiệm. Lý thuyết này ra đời vào những năm 1970 khi các nhà kinh tế nghiên cứu việc phân chia rủi ro giữa người ủy quyền và người đại diện do họ có mục tiêu và sự phân công lao động khác nhau. Cả hai bên đều tối đa hóa lợi ích của mình làm phát sinh chi phí giám sát, chi phí liên kết và chi phí khác.
Áp dụng lý thuyết chi phí đại diện cho vấn đề nghiên cứu Chi phí của các công ty niêm yết nói chung và ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng có sự tách biệt và bất cân xứng thông tin. Chủ sở hữu có xu hướng thuê giám đốc đại diện cho mình để điều hành công ty làm phát sinh chi phí đại diện và đây là chi phí không thể tránh khỏi khi giám đốc và cổ đông không đồng nhất về lợi ích. Nhà quản lý có thuận lợi hơn trong việc nắm giữ thông tin, còn chủ sở hữu, nhà đầu tư khó khăn hơn trong việc có được thông tin về hoạt động của công ty và giám sát nhà quản lý. Các chủ sở hữu tăng cường báo cáo làm tăng chi phí.
Việc CBTT tự nguyện của các nhà quản lý sẽ giúp giảm chi phí cơ quan, giảm sự bất cân xứng thông tin. Nhà quản lý có cùng mục tiêu vì lợi ích, và nhà quản lý đại diện cổ đông để quản lý, điều hành công ty nhằm đạt được mục tiêu chung. Lý thuyết này được sử dụng để giải thích sự ảnh hưởng của các nhân tố như: qui mô công ty, kết quả hoạt động kinh doanh, hiệu quả sử dụng tài sản, tỷ suất đòn bẩy tài chính và cơ cấu HĐQT.2 Lý thuyết tín hiệu Lý thuyết này xuất phát từ sự bất cân xứng thông tin của lý thuyết chi phí đại diện, thông tin không có sẵn và nhà quản lý nắm giữ nhiều thông tin hơn, các quyết định tài chính của công ty sẽ là dấu hiệu được truyền ra thị trường để nhà đầu tư xem xét, ra quyết định, đánh giá đúng về tình hình hoạt động của công ty. Ross (1977) nhận xét: khi công ty hoạt động hiệu quả sẽ CBTT tốt hơn, các nhà quản lý sử dụng các quyết định tài chính để xem xét phản ứng của thị trường, là công cụ để truyền tín hiệu 15 ra thị trường.
Áp dụng lý thuyết tín hiệu cho vấn đề nghiên cứu Trong hoạt động của thị trường chứng khoán thông tin bất cân xứng xảy ra khi các bên tham gia giao dịch (công ty niêm yết, tổ chức niêm yết, ngân hàng….) cố tình che đậy các thông tin liên quan. Dẫn đến lựa chọn bất lợi và hiện tượng rủi ro đạo đức. Lý thuyết này được sử dụng để giải thích sự ảnh hưởng của các nhân tố như: kết quả hoạt động kinh doanh, hiệu quả sử dụng tài sản, công ty kiểm toán và mức độ tập trung quyền sở hữu.3 Lý thuyết thông tin hữu ích Lý thuyết thông tin hữu ích (lý thuyết hữu dụng quyết định) là lý thuyết kế toán quy phạm được sử dụng như một cơ sở lý luận để xây dựng khuôn mẫu lý thuyết kế toán hiện hành của chuẩn mực báo cáo tài chính và các tiêu chuẩn quốc tế nhiều kế toán quốc gia. Lý thuyết này nhấn mạnh các nhiệm vụ cơ bản của báo cáo tài chính là cung cấp thông tin hữu ích và phù hợp cho người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế.
Lý thuyết thông tin hữu ích cũng đề cập đến các khái niệm về cân bằng lợi ích - chi phí, là một khía cạnh quan trọng cần xem xét khi thiết lập các tiêu chuẩn. Áp dụng lý thuyết thông tin hữu ích cho vấn đề nghiên cứu Trong thực tế luôn tồn tại sự mất cân đối về mặt thông tin giữa người lập BCTC và người sử dụng thông tin do nhu cầu của người sử dụng thông tin không được xác định trước. Mức độ CBTT tăng sẽ đem lại các lợi ích như thu hút các nhà đầu tư, gia tăng sự quan tâm của thị trường, tăng giá trị ngân hàng….