Phân Tầng Xã Hội Ở Nam Bộ Từ Đầu Thập Niên 2000 Đến Nay

Bài viết phân tích sự biến đổi của phân tầng xã hội ở Nam Bộ từ đầu thập niên 2000 đến nay, nêu bật các yếu tố ảnh hưởng và xu hướng phát triển.

Chuyên ngành

Xã Hội Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2023

236
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. DẪN LUẬN

1.1. Lý do nghiên cứu

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Câu hỏi nghiên cứu

1.5. Giả thuyết nghiên cứu

1.6. Đóng góp của luận án

2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ PHÂN TẦNG XÃ HỘI

2.1. Phân tầng xã hội dựa trên sự thay đổi cơ chế kinh tế

2.2. Phân tầng xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và hiện đại hóa

2.3. Phân tầng xã hội trong quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế thị trường

2.4. Phân tầng xã hội và sự hình thành, phát triển tầng lớp trung lưu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội

2.5. Phân tầng xã hội và di động xã hội

2.6. Các phương pháp phân tích trong nghiên cứu phân tầng xã hội

3. CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TẦNG XÃ HỘI

3.1. Các khái niệm liên quan đến phân tầng xã hội và di động xã hội

3.1.1. Khái niệm phân tầng xã hội

3.1.2. Khái niệm di động xã hội

3.1.3. Khái niệm bất bình đẳng xã hội

3.2. Các lý thuyết phân tầng xã hội

3.2.1. Lý thuyết giai cấp của Marx

3.2.2. Lý thuyết phân tầng xã hội của Max Weber

3.2.3. Các quan điểm phân tầng theo trường phái Tân Marxist

3.2.4. Các quan điểm phân tầng theo trường phái Tân Max Weber

3.2.5. Lý thuyết thứ bậc trong không gian xã hội của Pierre Bourdieu

3.3. Khung phân tích

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.4.1. Nguồn dữ liệu

3.4.2. Phương pháp phân loại nghề và các giai tầng xã hội

3.4.3. Phương pháp phân tích

4. CHƯƠNG III: PHÂN TẦNG XÃ HỘI DỰA TRÊN NGHỀ Ở NAM BỘ TỪ ĐẦU THẬP NIÊN 2000 ĐẾN NAY

4.1. Thực trạng và xu hướng phân tầng xã hội dựa trên nghề ở Nam Bộ

4.2. Sự khác biệt trong cơ cấu giai tầng nghề giữa khu vực nông thôn và khu vực thành thị

4.3. Sự khác biệt trong cơ cấu giai tầng nghề giữa các vùng kinh tế

4.4. Phân bổ nguồn lực giữa các giai tầng xã hội dựa trên nghề

4.5. Các yếu tố kinh tế - xã hội và các nguồn lực gia đình ảnh hưởng đến các giai tầng xã hội dựa trên nghề của cư dân Nam Bộ

5. CHƯƠNG IV: PHÂN TẦNG XÃ HỘI DỰA VÀO MỨC SỐNG CỦA CƯ DÂN NAM BỘ TỪ ĐẦU THẬP NIÊN 2000 ĐẾN NAY

5.1. Phân tầng xã hội dựa vào thu nhập

5.1.1. Thực trạng và xu hướng phân tầng dựa vào thu nhập của cư dân Nam Bộ

5.1.2. Sự khác biệt về phân tầng dựa trên thu nhập giữa nông thôn - thành thị

5.1.3. Sự khác biệt về phân tầng dựa vào thu nhập giữa các tiểu vùng kinh tế

5.1.4. Mối quan hệ giữa thu nhập với các giai tầng xã hội dựa trên nghề

5.2. Phân tầng xã hội ở Nam Bộ dựa vào chất lượng nhà ở

5.2.1. Thực trạng và xu hướng biến đổi chất lượng nhà ở của cư dân Nam Bộ

5.2.2. Sự khác biệt về nhà ở giữa nông thôn và thành thị

5.2.3. Sự khác biệt về chất lượng nhà ở giữa các tiểu vùng kinh tế

5.2.4. Mối quan hệ giữa chất lượng nhà ở với các giai tầng xã hội dựa trên nghề ở Nam Bộ

5.3. Phân tầng xã hội dựa vào giá trị nhà ở

5.3.1. Sự biến đổi về giá trị căn nhà ở của cư dân Nam Bộ

5.3.2. Sự khác biệt về giá trị căn nhà giữa nông thôn - đô thị

5.3.3. Sự khác biệt về giá trị căn nhà giữa các tiểu vùng kinh tế

5.3.4. Mối quan hệ giữa trị giá căn nhà và giai tầng xã hội dựa trên nghề ở Nam Bộ

5.4. Phân tầng xã hội dựa vào các vật dụng trong gia đình

5.4.1. Thực trạng và xu hướng sở hữu các vật dụng sinh hoạt trong gia đình

5.4.2. Sự khác biệt giữa nông thôn - thành thị trong sở hữu vật dụng sinh hoạt

5.4.3. Sự khác biệt giữa các tiểu vùng kinh tế trong việc sở hữu vật dụng sinh hoạt

5.4.4. Mối quan hệ giữa việc sở hữu các vật dụng với các nhóm giai tầng xã hội dựa trên nghề

5.5. Các yếu tố kinh tế - xã hội và nguồn lực của gia đình ảnh hưởng đến phân tầng xã hội dựa vào mức sống ở Nam Bộ

5.5.1. Các yếu tố kinh tế - xã hội và nguồn lực của gia đình ảnh hưởng đến phân tầng xã hội dựa vào thu nhập

5.5.2. Các yếu tố kinh tế - xã hội và nguồn lực của gia đình ảnh hưởng đến phân tầng xã hội dựa vào nhà ở

5.5.3. Các yếu tố kinh tế - xã hội và nguồn lực của gia đình ảnh hưởng đến phân tầng xã hội dựa vào các vật dụng sinh hoạt trong gia đình

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Phân Tầng Xã Hội Nam Bộ Tổng Quan Nghiên Cứu Chi Tiết

Nghiên cứu về phân tầng xã hội Nam Bộ là một lĩnh vực quan trọng trong xã hội học, đặc biệt trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội nhanh chóng của khu vực từ đầu thập niên 2000 đến nay. Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện, ứng dụng các lý thuyết và phương pháp phân tích phù hợp với từng thời điểm và khu vực. Trước năm 2000, các nghiên cứu thường dựa trên lý thuyết của Marx, sử dụng tiêu chí thu nhập và tư liệu sản xuất để phân tích. Sau đó, lý thuyết của Weber cũng được áp dụng. Các nghiên cứu gần đây tập trung vào phân tầng xã hội theo nghề, kết hợp với các tiêu chí kinh tế và tài sản gia đình. Nghiên cứu này nhằm mục đích đóng góp vào việc nhận diện khuôn mẫu phát triển và biến đổi cơ cấu xã hội ở vùng Nam Bộ hiện nay, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội.

1.1. Lý Do Nghiên Cứu Phân Tầng Xã Hội Ở Nam Bộ

Nghiên cứu phân tầng xã hộidi động xã hội là một chủ đề quan trọng trong xã hội học Việt Nam. Số lượng nghiên cứu liên quan đã tăng lên đáng kể trong những thập kỷ gần đây, như các nghiên cứu của Tương Lai (1995), Trịnh Duy Luân (1993), và Bùi Thế Cường (2015, 2020). Các nghiên cứu này cho thấy sự linh hoạt trong việc áp dụng các lý thuyết và phương pháp phân tích phân tầng xã hội, cơ cấu xã hội phù hợp ở mỗi thời điểm và khu vực khác nhau. Các nghiên cứu thường tập trung vào phân tích ở khía cạnh kinh tế (thu nhập, chi tiêu) hay phân tầng về mức sống như thu nhập, nhà ở và các điều kiện sống của gia đình.

1.2. Mục Tiêu Nghiên Cứu Cấu Trúc Xã Hội Nam Bộ

Nghiên cứu nhằm làm rõ những đặc điểm của phân tầng xã hội và biến đổi của các giai tầng xã hội ở vùng Nam Bộ từ thập niên 2000 đến nay. Cụ thể, nó sẽ phân tích thực trạng và xu hướng của phân tầng xã hội, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến nó giữa các nhóm dân cư khác nhau. Nghiên cứu cũng sẽ phân tích các yếu tố kinh tế - xã hội của gia đình và các nguồn vốn nhân lực của cá nhân có tác động đến vị thế giai tầng của người lao động. Cuối cùng, luận án kỳ vọng tìm ra những điểm tương đồng hoặc khác biệt khi áp dụng lý thuyết phân tầng của Tân Maxist (Neo – Maxist) và tân Weber (Neo – Weberian) vào phân tích hiện thực xã hội ở Nam Bộ so với những nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây.

II. Thách Thức Vấn Đề Nghiên Cứu Bất Bình Đẳng Xã Hội Nam Bộ

Một trong những thách thức lớn nhất trong nghiên cứu phân tầng xã hội là xác định các tiêu chí phù hợp để phân loại các nhóm dân cư. Các tiêu chí truyền thống như thu nhập và tư liệu sản xuất có thể không còn phản ánh đầy đủ sự phức tạp của xã hội hiện đại. Ngoài ra, việc thu thập dữ liệu chính xác và đáng tin cậy cũng là một khó khăn lớn. Các cuộc điều tra mức sống dân cư (VHLSS) cung cấp một nguồn dữ liệu quan trọng, nhưng có thể không đủ thông tin để phân tích phân tầng xã hội dựa vào tất cả các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực chính trị. Vì vậy, nghiên cứu cần tập trung vào các khía cạnh kinh tế và nghề nghiệp, là những khía cạnh có thông tin trong VHLSS.

2.1. Hạn Chế Trong Dữ Liệu Nghiên Cứu Phân Tầng Xã Hội

Luận án sử dụng nguồn dữ liệu chính là dữ liệu thứ cấp - các cuộc Điều tra mức sống dân cư (VHLSS) của Tổng cục Thống kê Việt Nam. Thế mạnh của nguồn dữ liệu là có thông tin rộng và trải theo định kỳ thời gian, trong khi các cuộc điều tra chọn mẫu chuyên đề không có điều kiện để khảo sát rộng và lặp lại nhiều lần. Mục đích của VHLSS là phục vụ cho việc thu thập thông tin kinh tế - văn hóa – xã hội trên diện rộng chứ không phải là khảo sát riêng về phân tầng xã hội, nên khi sử dụng để phân tích phân tầng xã hội, là một lĩnh vực chuyên biệt, sẽ có một số hạn chế. Vì vậy, luận án chỉ tập trung vào phân tích phân tầng ở hai khía cạnh kinh tế và nghề nghiệp của người lao động, là những khía cạnh có thông tin trong VHLSS.

2.2. Phạm Vi Nghiên Cứu Nghề Nghiệp Và Mức Sống Cư Dân

Luận án phân tích phân tầng xã hộiNam Bộ từ đầu thập niên 2000 đến nay qua hai khía cạnh sau: (1) phân tầng xã hội dựa trên nghề: thông qua việc phân tích vị thế nghề nghiệp của người lao động để chia các nhóm dân cư thành các giai tầng xã hội khác nhau; (2) phân tầng xã hội dựa vào mức sống: phân tích sự khác biệt về thu nhập, nhà ở, các vật dụng sinh hoạt có giá trị giữa các nhóm dân cư. Bên cạnh đó, luận án cũng tìm hiểu các yếu tố kinh tế - xã hội của gia đình và các nguồn lực của cá nhân tác động đến vị thế giai tầng nghề, cũng như khả năng sở hữu tài sản của các nhóm dân cư khác nhau.

III. Phương Pháp Phân Tích Giai Cấp Xã Hội Tại Nam Bộ Cách Tiếp Cận

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp kết hợp định lượng và định tính để phân tích phân tầng xã hội Nam Bộ. Dữ liệu định lượng từ các cuộc điều tra VHLSS được sử dụng để xác định xu hướng và mức độ phân tầng theo nghề và mức sống. Dữ liệu định tính từ các cuộc phỏng vấn sâu được sử dụng để hiểu rõ hơn về trải nghiệm và quan điểm của các nhóm dân cư khác nhau về bất bình đẳng xã hộicơ hội di động xã hội. Các lý thuyết phân tầng của Marx, Weber, và Bourdieu được sử dụng làm khung phân tích để giải thích các kết quả nghiên cứu.

3.1. Nguồn Dữ Liệu Và Phân Tích Định Lượng Phân Tầng

Luận án sử dụng bốn bộ số liệu VHLSS các năm 2006, 2010, 2014 và 2018 để phân tích phân tầng xã hội ở Nam Bộ. Mẫu nghiên cứu được Tổng cục thống kê lựa chọn có tính đại diện và địa bàn khảo sát được lặp lại qua các thời điểm khảo sát. Mẫu nghiên cứu được Tổng cục thống kê lựa chọn có tính đại diện khá cao cho việc phân tích phân tầng xã hội trên phạm vi rộng và diễn ra trên trục thời gian khá dài.

3.2. Phỏng Vấn Sâu Góc Nhìn Định Tính Về Di Động Xã Hội

Để bổ sung thêm chứng cứ cho các dữ liệu định lượng, tác giả tiến hành khảo sát 45 cuộc phỏng vấn sâu tại ba địa bàn trong thời giai 2019 – 2021. Trong đó, địa bàn phường Tân Hưng Thuận, quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện 15 cuộc phỏng vấn sâu trong 2 năm 2019 và 2020; địa bàn phường Tân Xuân, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước thực hiện 15 cuộc phỏng vấn sâu vào tháng 9 – 10 năm 2020; địa bàn xã Thạnh An, huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ thực hiện 15 cuộc phỏng vấn sâu vào tháng 12 năm 2021.

IV. Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Đổi Mới Kinh Tế Đến Địa Vị Xã Hội Nam Bộ

Nghiên cứu sẽ phân tích sự thay đổi trong cấu trúc xã hội Nam Bộ từ đầu thập niên 2000 đến nay, tập trung vào sự hình thành và phát triển của các tầng lớp trung lưu, sự phân hóa giàu nghèo, và ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến phân tầng xã hội. Nghiên cứu cũng sẽ xem xét mối quan hệ giữa phân tầng xã hộidi động xã hội, xác định các yếu tố thúc đẩy hoặc cản trở cơ hội di động xã hội cho các nhóm dân cư khác nhau. Cuối cùng, nghiên cứu sẽ đề xuất một số giải pháp chính sách để giảm bất bình đẳng xã hội và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững ở Nam Bộ.

4.1. Phân Hóa Giàu Nghèo và Tầng Lớp Trung Lưu Nam Bộ

Sau đổi mới, Nam Bộ đã có nhiều thay đổi về kinh tế - xã hội và văn hóa do quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập quốc tế phát triển mạnh. Các biến đổi về cấu trúc dân số, kinh tế, văn hóa và xã hội dẫn đến biến đổi về cơ cấu giai tầng xã hội, tạo ra những khuôn mẫu phát triển xã hội mới, đòi hỏi công tác quản lý phát triển xã hội phải có những thay đổi. Vì vậy, để nhận thức và quản lý xã hội tốt hơn thì việc nghiên cứu về các chủ đề này cần phải tiếp tục phát triển trên phạm vi cả nước và ở khu vực.

4.2. Cơ Hội và Rào Cản Di Động Xã Hội Ở Nam Bộ

Từ những lý do nêu trên, nghiên cứu phân tầng xã hội ở Nam Bộ từ đầu thập niên 2000 đến nay là rất cần thiết trong bối cảnh phát triển xã hội. Luận án góp phần ý nghĩa về mặt lý luận, xác định cơ sở khoa học cho các vấn đề liên quan đến phân tầng xã hội, di động xã hội, mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc nhận diện khuôn mẫu trong phát triển và biến đổi cơ cấu xã hội ở vùng Nam Bộ hiện nay. Kết quả nghiên cứu có thể đóng góp vào việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của khu vực Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung.

V. So Sánh Phân Tầng Xã Hội Nam Bộ và Các Vùng Khác Điểm Khác

Một điểm quan trọng cần xem xét là sự khác biệt về phân tầng xã hội giữa Nam Bộ và các vùng khác ở Việt Nam. Nam Bộ có lịch sử phát triển kinh tế khác biệt, với vai trò quan trọng của nông nghiệp và thương mại. Điều này có thể dẫn đến sự khác biệt trong cấu trúc xã hộiđộng thái phân tầng so với các vùng khác như Đồng bằng sông Hồng hay miền Trung. Nghiên cứu cần so sánh các kết quả phân tích về Nam Bộ với các nghiên cứu tương tự ở các vùng khác để xác định các đặc điểm riêng biệt của phân tầng xã hộiNam Bộ.

5.1. So Sánh Với Nghiên Cứu Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long

Luận án phân tích phân tầng xã hội trên phạm vi vùng Nam Bộ chia thành 3 tiểu vùng: Tây Nam Bộ, Đông Nam Bộ hẹp và Thành phố Hồ Chí Minh. Việc tách Thành phố Hồ Chí Minh và Đông Nam Bộ hẹp sẽ cho thấy những phân tích đặc thù. Trên cơ sở xác định không gian nghiên cứu, tác giả cũng tiến hành khảo sát thực địa với 45 cuộc phỏng vấn sâu ở ba địa bàn đại diện cho ba tiểu vùng kinh tế ở Nam Bộ như sau: - Xã Thạnh An, huyện Vĩnh Thạnh, Cần Thơ - đại diện tiểu vùng kinh tế Tây Nam Bộ

5.2. So Sánh Với Nghiên Cứu Tại Đông Nam Bộ

  • Phường Tân Xuân, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước - đại diện tiểu vùng kinh tế Đông Nam Bộ hẹp; - Phường Tân Hưng Thuận, quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh - đại diện tiểu vùng kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Phạm vi thời gian nghiên cứu Luận án nghiên cứu theo hướng lịch đại sử dụng bốn bộ số liệu VHLSS các năm 2006, 2010, 2014 và 2018 để phân tích phân tầng xã hội ở Nam Bộ.

VI. Chính Sách Xã Hội và Xu Hướng Phân Tầng Xã Hội Hiện Nay

Nghiên cứu này không chỉ tập trung vào việc mô tả và phân tích phân tầng xã hội, mà còn nhằm mục đích đề xuất các giải pháp chính sách để giải quyết các vấn đề liên quan đến bất bình đẳng xã hội. Các chính sách này có thể bao gồm các biện pháp hỗ trợ người nghèo, tăng cường cơ hội giáo dục, thúc đẩy di động xã hội, và đảm bảo tiếp cận công bằng đến các dịch vụ công. Ngoài ra, nghiên cứu cũng cần xem xét các yếu tố văn hóa và biến đổi xã hội có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của các chính sách chính sách xóa đói giảm nghèo.

6.1. Tác Động Của Chính Sách Đến Người Nghèo Ở Nam Bộ

Giả thuyết nghiên cứu - Phân tầng xã hội ở Nam Bộ từ đầu thập niên 2000 đến nay có nhiều biến đổi qua từng thời điểm khảo sát, các nhóm nghề thuộc giai tầng dưới và giữa dưới có xu hướng giảm dần, còn các nhóm nghề thuộc tầng giữa trên và giữa trung có xu hướng tăng lên. - Đặc điểm kinh tế - xã hội của gia đình (Sự đầu tư kinh tế của gia đình, mạng lưới xã hội của gia đình) và nguồn vốn nhân lực (học vấn, nghề nghiệp, giới tính, mạng lưới xã hội của cá nhân) có ảnh hưởng mạnh tới vị thế giai tầng xã hội của người lao động.

6.2. Đề Xuất Chính Sách Để Giảm Bất Bình Đẳng Xã Hội

  • Sự khác biệt về mức độ đô thi hóa và công nghiệp hóa giữa nông thôn – thành thị và giữa các tiểu vùng kinh tế ở Nam Bộ (Tây Nam Bộ, Đông Nam Bộ hẹp, Thành phố Hồ Chí Minh) hình thành nên những khuôn mẫu giai tầng xã hội khác nhau. Những khu vực nào đô thị hóa, công nghiệp hóa cao hơn thì ở đó tháp phân tầng mang hình dáng của một xã hội công nghiệp phát triển với các nhóm giai tầng trên và giữa trên, giữa trung chiếm tỷ lệ khá cao, và các giai tầng thuộc tầng dưới và giữa dưới chiếm tỷ lệ vừa phải.
23/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I. Tổng quan nghiên cứu về phân tầng xã hội trong và ngoài nước Chương II. Cơ sở lý luận về phân tầng xã hội Chương III. Phân tầng xã hội dựa trên nghề ở Nam Bộ từ đầu thập niên 2000 đến nay Chương IV.

Phân tầng xã hội dựa vào mức sống ở Nam Bộ từ đầu thập niên 2000 đến nay Kết luận và khuyến nghị chính sách Tài liệu trích dẫn Phụ lục 9 CHƢƠNG I. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ PHÂN TẦNG XÃ HỘI 1. Phân tầng xã hội dựa trên sự thay đổi cơ chế kinh tế Sự thay đổi cơ chế kinh tế ở một số quốc gia được xem như động lực lớn đã làm biến đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu dân số và cơ cấu nghề nghiệp dẫn đến sự biến đổi cơ cấu xã hội. Chính điều này đã làm cho xu hướng phân tầng xã hội ở những quốc gia đó có xu hướng ngày càng mạnh mẽ hơn.

Nghiên cứu về phân tầng xã hội trong quá trình biến đổi cơ chế kinh tế không thể không nhắc đến hai quốc gia có đặc điểm kinh tế, chính trị và sự chuyển đổi cơ cấu xã hội khá tương đồng nhau là Trung Quốc và Việt Nam. Nghiên cứu về phân tầng xã hội và di động xã hội ở Trung Quốc trước cải cách kinh tế cho thấy có 4 yếu tố cấu thành các tầng lớp xã hội khác nhau gồm: (1) Sự khác biệt khu vực nông thôn - đô thị chia tách về tình trạng cư trú, (2) sự phân biệt giữa loại hình sở hữu kinh tế, thuộc sở hữu tập thể hay sở hữu tư nhân, (3) sự phân biệt giữa cán bộ công nhân viên trong phân loại nghề nghiệp, (4) sự phân chia "cách mạng - phản cách mạng" trong tính chất chính trị. Sự phân chia giữa nông thôn và thành thị được xác định qua việc đăng ký hộ gia đình cứng nhắc, đã hạn chế tất cả người Trung Quốc sinh ra sau thời kỳ cách mạng bị đóng băng trong khu vực cư trú của mình và ít có cơ hội di cư đến khu vực nào khác (Cheng,T. Nhưng đến thời kỳ hậu Mao công cuộc cải cách bắt đầu ở nông thôn vào năm 1978, cơ cấu xã hội của Trung Quốc đã chuyển đổi từ một hệ thống thứ bậc cứng nhắc dưới thời Mao Trạch Đông sang một hệ thống giai cấp mở phát triển trong giai đoạn hậu Mao.

Cuộc cải cách đã đưa hộ gia đình trở thành nòng cốt, là đơn vị sản xuất, phân phối và tiêu dùng cơ bản. Các tài sản của hợp tác xã được trả về từng gia đình, họ có quyền được chuyên canh hoặc tự giải phóng khỏi đất đai để làm việc tại địa phương hoặc nơi khác để có thu nhập cao hơn từ một công việc phi nông nghiệp (Bian, Y. Chính điều này đã dẫn đến tình trạng di cư từ nông thôn ra thành thị dễ dàng hơn, tính đến năm 1995 toàn Trung Quốc có khoảng 80 triệu lao động nông nghiệp đã di cư tới sinh sống và làm việc ở các thành phố (Bian, Y. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, sau cải 10 cách kinh tế thị trường 1978 nguồn vốn nhân lực có ảnh hưởng rất lớn đến phân tầng xã hội của các nhóm dân cư, những cán bộ cộng sản ngày xưa trở thành những ông chủ, là “tầng lớp doanh nhân mới” sau khi công ty nhà nước dần chuyển sang thành công ty cổ phần hoặc doanh nghiệp tư nhân.

Còn các trí thức, các chuyên gia, tầng lớp hoạt động văn hóa nghệ thuật luôn là tầng lớp mơ hồ trong suốt lịch sử sau chiến tranh. Nhưng đến năm 1979 tầng lớp trí thức được Đặng Tiểu Bình đưa lên "lao động đẳng cấp", chính vị thế đó đã khiến các nhà trí thức đã trở thành tầng lớp "tân tiến" trong thời kỳ cải cách, bởi vì tầng lớp này có trình độ học vấn cao và giữ họ trong một tầng lớp chuyên nghiệp có uy tín cao (Davis, S., 2000; Hoàng Huệ Anh, 2008). Trong nghiên cứu về phân tầng xã hội sau cải cách kinh tế, các yếu tố như nguồn lực cá nhân, trình độ học vấn, uy tín nghề nghiệp, bất bình đẳng xã hội, bất bình đẳng giới, và điều kiện kinh tế của gia đình tác động rất lớn đến việc hình thành các tầng lớp mới ở Trung Quốc. Điều này cũng được Lục Học Nghệ và đồng nghiệp phân tích từ 1990 đến 2007 dựa trên 3 tiêu chí: thu nhập, văn hóa và quyền lực theo lý thuyết của Weber.

Các tác giả kết luận rằng có thể chia xã hội Trung Quốc hiện nay thành 10 nhóm giai tầng chính, với một số đặc trưng nhất định về mức độ thụ hưởng phúc lợi, về các hệ giá trị, về lòng tin và quan niệm của họ liên quan đến bản thân mình, cộng đồng, và xã hội (Lục Học Nghệ, 2007). Đặc biệt, khi phân tích xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội ở Trung Quốc cũng cho thấy một số đặc trưng như: số lượng lao động trong các cơ sở ngoài nhà nước tăng lên; vị trí và vai trò của tầng lớp trí thức được nâng lên đáng kể; giai tầng yếu thế (những người học vấn thấp, địa vị xã hội – chính trị yếu ớt, nguồn lực kinh tế không có) đang trở thành một thách thức đáng kể đối với Trung Quốc trong tương lai; cuối cùng tầng lớp trung lưu chiếm giữa một ví trí quan trọng trong cơ cấu giai tầng xã hội (Cao Tuyết Ngọc, 2004). Xuất hiện tầng lớp trung lưu mới và phát triển khá mạnh ở Trung Quốc, họ là những người lao động trẻ, có trình độ học vấn cao, kỹ năng tay nghề tốt và những cá nhân thuộc nhóm trung lưu này có phong cách sinh hoạt văn hóa - nghệ thuật và tiêu dùng hoàn toàn khác với những giai tầng khác trong xã hội (Song, J. Ở Việt Nam sau 1975, Chính Phủ chủ trương xây dựng đất nước đi lên xã hội chủ nghĩa với cơ chế kinh tế tập trung bao cấp.

Bên cạnh những mặt ưu điểm của cơ 11 chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thì chính sách này đã tạo ra một sức ì trong sản xuất và tính năng động xã hội dần dần bị giảm sút, nhiều lĩnh vực kinh tế bị triệt tiêu. Tình trạng “rong công, phóng điểm” các đội sản xuất của hợp tác xã quản lý đi ngược với lợi ích của người lao động, người làm thật, người làm vờ, người có năng suất cao và người có năng suất thấp cũng ngang bằng nhau trong lao động (Tương Lai, 1995; Nguyễn Đình Tấn, 2013). Từ năm 1986, Chính phủ Việt Nam thực hiện Đổi mới, cải cách kinh tế, nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hộ gia đình trở về đơn vị kinh tế nòng cốt, đất đai chia lại cho người dân và mỗi hộ gia đình chịu trách nhiệm trong việc sản xuất của mình, đã tạo động lực cho việc phát triển kinh tế xã hội và các lĩnh vực khác. Việc chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường đã tạo động lực để mỗi cá nhân có thể bộc lộ hết những mặt mạnh, cũng như hạn chế các mặt yếu của mình, để cố gắng tìm kiếm được những lợi ích cao nhất cho mình.

Từ một cơ chế kinh tế hai thành phần với hai hình thức sở hữu sang cơ chế nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu, từ một xã hội chủ yếu là giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức sang một xã hội gồm nhiều giai tầng khác nhau bao gồm: công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, tầng lớp trung lưu. Công cuộc Đổi mới đã làm cho phân tầng xã hội ngày càng có xu hướng mạnh hơn, trong đó thể hiện sự chênh lệch mức sống giữa các nhóm dân cư hay giữa các khu vực kinh tế, giữa nông thôn và đô thị. Trong đó, các yếu tố như điều kiện kinh tế - xã hội của gia đình hay nguồn vốn nhân lực của mỗi cá nhân ảnh hưởng rất lớn đến phân tầng xã hội của các cá nhân và nhóm xã hội khác nhau. Theo Tương Lai thì sau Đổi mới có hai yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến phân tầng mức sống giữa các nhóm dân cư lúc bấy giờ là học vấn và nghề nghiệp.

Những nhóm dân cư nào có học vấn càng cao, nghề nghiệp ổn định và có chuyên môn kỹ thuật tốt thì mức sống của họ càng cao. Còn những người học vấn thấp, trình độ tay nghề thấp có thì mức sống của họ càng thấp và có xu hướng rơi vào nhóm nghèo của xã hội (Tương Lai, 1995). Ngoài ra, địa bàn cư trú cũng tạo ra sự chênh lệch mức sống giữa các nhóm dân cư, những người nào sống ở khu vực đô thị thì mức sống cao hơn những người sống khu vực nông thôn. Bởi vì những người sống ở khu vực đô thị thì có nhiều cơ hội tìm kiếm những công việc có 12 thu nhập cao ở các công ty, xí nghiệp; còn những hộ sống xa đô thị, do điều kiện đi lại và khả năng tiếp cận việc làm đều khó khăn hơn, nên thu nhập của họ cũng thấp hơn (Tương Lai, 1995; Nguyễn Văn Toàn, 2008; Minot, N.

Bên cạnh đó, khi phân tích phân tầng xã hội trong thời kỳ sau Đổi Mới, nhóm tác giả Trịnh Duy Luân và Bùi Thế Cường (2001) cho rằng, sự phân tầng xã hội của nước ta lúc bấy giờ đang có chiều hướng tăng nhanh, mức chênh lệch thu nhập của nhóm giàu và nhóm nghèo trong năm 1998 là 11,26 lần. Theo nhóm tác giả thì các yếu tố ảnh hưởng lớn đến phân tầng xã hội là trình độ học vấn, tỷ lệ người ăn theo, khu vực kinh tế và địa bàn cư trú. Nhóm tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình và đưa ra nguyên nhân dẫn đến phân tầng xã hội như sau: Thứ nhất là việc tập trung đầu tư quá mức vào đô thị và công nghiệp, tác động của việc tập trung đất đai của một số vùng; Thứ hai là thị trường hóa các dịch vụ xã hội (đặc biệt sự phát triển các dịch vụ tư nhân trong giáo dục và y tế) đã gây ra tiêu cực, làm tăng sự phân tầng xã hội, nhất là đối với nhóm nghèo; Thứ ba, học vấn là yếu tố quan trọng tác động đến phân tầng xã hội; Cuối cùng là quyền lực, được thể hiện ở cả hai khía cạnh kinh tế và chính trị (Trịnh Duy Luân, Bùi Thế Cường, 2001).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Phân Tầng Xã Hội Ở Nam Bộ Từ Đầu Thập Niên 2000 Đến Nay: Nghiên Cứu Và Phân Tích" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự biến đổi của cấu trúc xã hội tại khu vực Nam Bộ trong hai thập kỷ qua. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân tầng xã hội mà còn chỉ ra những hệ lụy của nó đối với đời sống kinh tế và văn hóa của người dân. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách mà các chính sách và biến động kinh tế đã tác động đến sự phân chia giai cấp, từ đó giúp họ hiểu rõ hơn về bối cảnh xã hội hiện tại.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ chuyển biến kinh tế xã hội huyện mỹ đức hà tây từ năm 1991 đến năm 2008, nơi phân tích sự thay đổi kinh tế xã hội trong một huyện cụ thể, hoặc tìm hiểu về Luận văn thạc sĩ triết học sự tác động của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến đạo đức gia đình truyền thống ở việt nam, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của kinh tế thị trường đến các giá trị văn hóa. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh của xã hội và kinh tế Việt Nam hiện nay.