Chương I. Tổng quan nghiên cứu về phân tầng xã hội trong và ngoài nước Chương II. Cơ sở lý luận về phân tầng xã hội Chương III. Phân tầng xã hội dựa trên nghề ở Nam Bộ từ đầu thập niên 2000 đến nay Chương IV.
Phân tầng xã hội dựa vào mức sống ở Nam Bộ từ đầu thập niên 2000 đến nay Kết luận và khuyến nghị chính sách Tài liệu trích dẫn Phụ lục 9 CHƢƠNG I. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ PHÂN TẦNG XÃ HỘI 1. Phân tầng xã hội dựa trên sự thay đổi cơ chế kinh tế Sự thay đổi cơ chế kinh tế ở một số quốc gia được xem như động lực lớn đã làm biến đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu dân số và cơ cấu nghề nghiệp dẫn đến sự biến đổi cơ cấu xã hội. Chính điều này đã làm cho xu hướng phân tầng xã hội ở những quốc gia đó có xu hướng ngày càng mạnh mẽ hơn.
Nghiên cứu về phân tầng xã hội trong quá trình biến đổi cơ chế kinh tế không thể không nhắc đến hai quốc gia có đặc điểm kinh tế, chính trị và sự chuyển đổi cơ cấu xã hội khá tương đồng nhau là Trung Quốc và Việt Nam. Nghiên cứu về phân tầng xã hội và di động xã hội ở Trung Quốc trước cải cách kinh tế cho thấy có 4 yếu tố cấu thành các tầng lớp xã hội khác nhau gồm: (1) Sự khác biệt khu vực nông thôn - đô thị chia tách về tình trạng cư trú, (2) sự phân biệt giữa loại hình sở hữu kinh tế, thuộc sở hữu tập thể hay sở hữu tư nhân, (3) sự phân biệt giữa cán bộ công nhân viên trong phân loại nghề nghiệp, (4) sự phân chia "cách mạng - phản cách mạng" trong tính chất chính trị. Sự phân chia giữa nông thôn và thành thị được xác định qua việc đăng ký hộ gia đình cứng nhắc, đã hạn chế tất cả người Trung Quốc sinh ra sau thời kỳ cách mạng bị đóng băng trong khu vực cư trú của mình và ít có cơ hội di cư đến khu vực nào khác (Cheng,T. Nhưng đến thời kỳ hậu Mao công cuộc cải cách bắt đầu ở nông thôn vào năm 1978, cơ cấu xã hội của Trung Quốc đã chuyển đổi từ một hệ thống thứ bậc cứng nhắc dưới thời Mao Trạch Đông sang một hệ thống giai cấp mở phát triển trong giai đoạn hậu Mao.
Cuộc cải cách đã đưa hộ gia đình trở thành nòng cốt, là đơn vị sản xuất, phân phối và tiêu dùng cơ bản. Các tài sản của hợp tác xã được trả về từng gia đình, họ có quyền được chuyên canh hoặc tự giải phóng khỏi đất đai để làm việc tại địa phương hoặc nơi khác để có thu nhập cao hơn từ một công việc phi nông nghiệp (Bian, Y. Chính điều này đã dẫn đến tình trạng di cư từ nông thôn ra thành thị dễ dàng hơn, tính đến năm 1995 toàn Trung Quốc có khoảng 80 triệu lao động nông nghiệp đã di cư tới sinh sống và làm việc ở các thành phố (Bian, Y. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, sau cải 10 cách kinh tế thị trường 1978 nguồn vốn nhân lực có ảnh hưởng rất lớn đến phân tầng xã hội của các nhóm dân cư, những cán bộ cộng sản ngày xưa trở thành những ông chủ, là “tầng lớp doanh nhân mới” sau khi công ty nhà nước dần chuyển sang thành công ty cổ phần hoặc doanh nghiệp tư nhân.
Còn các trí thức, các chuyên gia, tầng lớp hoạt động văn hóa nghệ thuật luôn là tầng lớp mơ hồ trong suốt lịch sử sau chiến tranh. Nhưng đến năm 1979 tầng lớp trí thức được Đặng Tiểu Bình đưa lên "lao động đẳng cấp", chính vị thế đó đã khiến các nhà trí thức đã trở thành tầng lớp "tân tiến" trong thời kỳ cải cách, bởi vì tầng lớp này có trình độ học vấn cao và giữ họ trong một tầng lớp chuyên nghiệp có uy tín cao (Davis, S., 2000; Hoàng Huệ Anh, 2008). Trong nghiên cứu về phân tầng xã hội sau cải cách kinh tế, các yếu tố như nguồn lực cá nhân, trình độ học vấn, uy tín nghề nghiệp, bất bình đẳng xã hội, bất bình đẳng giới, và điều kiện kinh tế của gia đình tác động rất lớn đến việc hình thành các tầng lớp mới ở Trung Quốc. Điều này cũng được Lục Học Nghệ và đồng nghiệp phân tích từ 1990 đến 2007 dựa trên 3 tiêu chí: thu nhập, văn hóa và quyền lực theo lý thuyết của Weber.
Các tác giả kết luận rằng có thể chia xã hội Trung Quốc hiện nay thành 10 nhóm giai tầng chính, với một số đặc trưng nhất định về mức độ thụ hưởng phúc lợi, về các hệ giá trị, về lòng tin và quan niệm của họ liên quan đến bản thân mình, cộng đồng, và xã hội (Lục Học Nghệ, 2007). Đặc biệt, khi phân tích xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội ở Trung Quốc cũng cho thấy một số đặc trưng như: số lượng lao động trong các cơ sở ngoài nhà nước tăng lên; vị trí và vai trò của tầng lớp trí thức được nâng lên đáng kể; giai tầng yếu thế (những người học vấn thấp, địa vị xã hội – chính trị yếu ớt, nguồn lực kinh tế không có) đang trở thành một thách thức đáng kể đối với Trung Quốc trong tương lai; cuối cùng tầng lớp trung lưu chiếm giữa một ví trí quan trọng trong cơ cấu giai tầng xã hội (Cao Tuyết Ngọc, 2004). Xuất hiện tầng lớp trung lưu mới và phát triển khá mạnh ở Trung Quốc, họ là những người lao động trẻ, có trình độ học vấn cao, kỹ năng tay nghề tốt và những cá nhân thuộc nhóm trung lưu này có phong cách sinh hoạt văn hóa - nghệ thuật và tiêu dùng hoàn toàn khác với những giai tầng khác trong xã hội (Song, J. Ở Việt Nam sau 1975, Chính Phủ chủ trương xây dựng đất nước đi lên xã hội chủ nghĩa với cơ chế kinh tế tập trung bao cấp.
Bên cạnh những mặt ưu điểm của cơ 11 chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thì chính sách này đã tạo ra một sức ì trong sản xuất và tính năng động xã hội dần dần bị giảm sút, nhiều lĩnh vực kinh tế bị triệt tiêu. Tình trạng “rong công, phóng điểm” các đội sản xuất của hợp tác xã quản lý đi ngược với lợi ích của người lao động, người làm thật, người làm vờ, người có năng suất cao và người có năng suất thấp cũng ngang bằng nhau trong lao động (Tương Lai, 1995; Nguyễn Đình Tấn, 2013). Từ năm 1986, Chính phủ Việt Nam thực hiện Đổi mới, cải cách kinh tế, nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hộ gia đình trở về đơn vị kinh tế nòng cốt, đất đai chia lại cho người dân và mỗi hộ gia đình chịu trách nhiệm trong việc sản xuất của mình, đã tạo động lực cho việc phát triển kinh tế xã hội và các lĩnh vực khác. Việc chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường đã tạo động lực để mỗi cá nhân có thể bộc lộ hết những mặt mạnh, cũng như hạn chế các mặt yếu của mình, để cố gắng tìm kiếm được những lợi ích cao nhất cho mình.
Từ một cơ chế kinh tế hai thành phần với hai hình thức sở hữu sang cơ chế nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu, từ một xã hội chủ yếu là giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức sang một xã hội gồm nhiều giai tầng khác nhau bao gồm: công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, tầng lớp trung lưu. Công cuộc Đổi mới đã làm cho phân tầng xã hội ngày càng có xu hướng mạnh hơn, trong đó thể hiện sự chênh lệch mức sống giữa các nhóm dân cư hay giữa các khu vực kinh tế, giữa nông thôn và đô thị. Trong đó, các yếu tố như điều kiện kinh tế - xã hội của gia đình hay nguồn vốn nhân lực của mỗi cá nhân ảnh hưởng rất lớn đến phân tầng xã hội của các cá nhân và nhóm xã hội khác nhau. Theo Tương Lai thì sau Đổi mới có hai yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến phân tầng mức sống giữa các nhóm dân cư lúc bấy giờ là học vấn và nghề nghiệp.
Những nhóm dân cư nào có học vấn càng cao, nghề nghiệp ổn định và có chuyên môn kỹ thuật tốt thì mức sống của họ càng cao. Còn những người học vấn thấp, trình độ tay nghề thấp có thì mức sống của họ càng thấp và có xu hướng rơi vào nhóm nghèo của xã hội (Tương Lai, 1995). Ngoài ra, địa bàn cư trú cũng tạo ra sự chênh lệch mức sống giữa các nhóm dân cư, những người nào sống ở khu vực đô thị thì mức sống cao hơn những người sống khu vực nông thôn. Bởi vì những người sống ở khu vực đô thị thì có nhiều cơ hội tìm kiếm những công việc có 12 thu nhập cao ở các công ty, xí nghiệp; còn những hộ sống xa đô thị, do điều kiện đi lại và khả năng tiếp cận việc làm đều khó khăn hơn, nên thu nhập của họ cũng thấp hơn (Tương Lai, 1995; Nguyễn Văn Toàn, 2008; Minot, N.
Bên cạnh đó, khi phân tích phân tầng xã hội trong thời kỳ sau Đổi Mới, nhóm tác giả Trịnh Duy Luân và Bùi Thế Cường (2001) cho rằng, sự phân tầng xã hội của nước ta lúc bấy giờ đang có chiều hướng tăng nhanh, mức chênh lệch thu nhập của nhóm giàu và nhóm nghèo trong năm 1998 là 11,26 lần. Theo nhóm tác giả thì các yếu tố ảnh hưởng lớn đến phân tầng xã hội là trình độ học vấn, tỷ lệ người ăn theo, khu vực kinh tế và địa bàn cư trú. Nhóm tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình và đưa ra nguyên nhân dẫn đến phân tầng xã hội như sau: Thứ nhất là việc tập trung đầu tư quá mức vào đô thị và công nghiệp, tác động của việc tập trung đất đai của một số vùng; Thứ hai là thị trường hóa các dịch vụ xã hội (đặc biệt sự phát triển các dịch vụ tư nhân trong giáo dục và y tế) đã gây ra tiêu cực, làm tăng sự phân tầng xã hội, nhất là đối với nhóm nghèo; Thứ ba, học vấn là yếu tố quan trọng tác động đến phân tầng xã hội; Cuối cùng là quyền lực, được thể hiện ở cả hai khía cạnh kinh tế và chính trị (Trịnh Duy Luân, Bùi Thế Cường, 2001).