CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI y tế nói riêng, chương tiếp theo sẽ điểm qua các phương pháp phân đoạn được áp dụng phổ biến, đồng thời cũng đưa ra một thống kê để cho thấy xu hướng phát triến của các phương pháp phân đoạn ảnh. 14 Chương 2 TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN ĐOẠN ẢNH Y SINH Phân vùng ảnh là bước then chốt trong xử lý ảnh. Giai đoạn này nhằm phân tích ảnh thành những thành phần có cùng tính chất nào đó dựa theo biên hay các vùng liên thông.
Trong ảnh y tế nói riêng, phân đoạn ảnh là vấn đề khó khăn do có sự đa dạng về các loại ảnh, các phương pháp lấy ảnh, mật độ tế bào, cách nhuộm màu, loại kính hiển vi dùng thu nhận ảnh cũng như độ phức tạp của dữ liệu (chứa một số lượng lớn các tế bào). Vì vậy các phương pháp tiếp cận xử lí bài toán phân đoạn ảnh y tế cũng rât đa dạng. Chương này sẽ trình bày về các phương pháp tiếp cận phổ biến trong lĩnh vực phân đoạn ảnh được áp dụng vào trong ảnh y tế và các ưu và nhược điểm của các phương pháp đó.1 Lấy ngưỡng Lấy ngưỡng là một trong những phương pháp đơn giản và phổ biến nhất cho phân đoạn ảnh nói chung và phân đoạn ảnh y tế nói riêng. Phương pháp này có thể dựa trên các đặc tính đơn giản, cần thiết nhất của ảnh như mức xám, độ tương phản, độ truyền sáng, màu sắc hoặc đáp ứng phổ để phân đoạn ảnh thành các vùng có đặc tính tương đồng.
Lấy ngưỡng sẽ phân hoạch ảnh ra làm 2 phần, một phần chứa các đối tượng 15 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN ĐOẠN ẢNH Y SINH (object hay foreground) trong bức ảnh và phần kia chứa nền ảnh (background) [33]. Lấy ngưỡng có thể dựa trên thông tin toàn cục của bức ảnh hoặc thông tin cục bộ của từng vùng trong ảnh. Nếu chỉ có một ngưỡng được sử dụng cho toàn bộ hình ảnh thì được gọi là lấy ngưỡng toàn cục.
Mặt khác, khi hình ảnh được phân chia thành nhiều vùng nhỏ và từng ngưỡng được xác định cho từng vùng, đó được gọi là ngưỡng địa phương.1 Lấy ngưỡng toàn cục Đây là phương pháp lấy ngưỡng đơn giản nhất. Nếu giá trị một điểm bé hơn một ngưỡng nào đó thì nó là điểm đen (0); mặt khác nó được coi là một điểm trắng (1).1) 0 if f (x, y) ≤ T trong đó: g(x, y) là giá trị kết quả tại điểm đang xét f (x, y) là giá trị ban đầu của điểm ảnh T là hằng số Giá trị ngưỡng T thường được xác định dựa trên histogram của ảnh. (a) Ảnh đầu vào (b) Histogram (c) Ảnh sau khi phân đoạn Hình 2.1: Phân đoạn ảnh với phương pháp lấy ngưỡng toàn cục [2] 16 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN ĐOẠN ẢNH Y SINH Một biến thể của phương pháp này là lấy ngưỡng toàn cục đa mức a if f (x, y) > T2 g(x, y) = b i f T1 < f (x, y) ≤ T2 (2.2) c if f (x, y) ≤ T1 (a) Một mức (b) Đa mức Hình 2.2: Phương pháp phân đoạn lấy ngưỡng một mức và đa mức [2] Trong phương pháp lấy ngưỡng thì việc chọn ngưỡng T đóng vai trò quyết định.
Thông thường nó được chọn dựa trên lược đồ mức xám của ảnh. T sẽ có giá trị mức xám tại các điểm cực tiểu trên lược đồ xám. Thuật toán lấy ngưỡng Otsu Otsu là tên một nhà nghiên cứu người Nhật đã nghĩ ra ý tưởng cho việc tính ngưỡng T một cách tự động (adaptive) dựa vào giá trị điểm ảnh của ảnh đầu vào nhằm thay thế cho việc sử dụng ngưỡng cố định (fixed hay const) [34]. Phương pháp này cho kết quả là mỗi ảnh khác nhau có một ngưỡng tương ứng khác nhau.2 Lấy ngưỡng cục bộ Lấy ngưỡng toàn cục có ưu điểm là hiệu suất cao do chỉ phải tính mức ngưỡng T đúng 1 lần.
Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, ảnh thu nhận không được chiếu sáng đồng đều. Khi đó lấy ngưỡng toàn cục tỏ ra kém hiệu quả. Lấy ngưỡng cục bộ cũng tương tự như lấy ngưỡng toàn cục, tuy nhiên mức ngưỡng T là thay đổi, không những phụ thuộc vào đặc tính mà còn vào vị trí của điểm ảnh đang 17 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN ĐOẠN ẢNH Y SINH xét.
Chẳng hạn T có thể lấy giá trị trung bình của một vùng ảnh xung quanh điểm đang xét. Do đó lấy ngưỡng cục bộ có tính thích nghi cao hơn lấy ngưỡng toàn cục.2 Phân đoạn dựa vào đường biên Biên là ranh giới giữa một đố tượng và nền hay là đường ranh giới phân biệt giữa hai đối tượng kề nhau. Biên đóng một vị trí hết sức cơ bản trong phân tích ảnh. Một ảnh chỉ với màu đen trắng nhưng có đường biên rõ ràng thì người ta hoàn toàn có thể nhận biết được đối tượng trong ảnh.
Phát hiện biên là một công cụ quan trọng trong xử lý ảnh số. Nó làm giảm một cách đáng kể khối lượng dữ liệu cần tính toán, chỉ giữ lại một số ít những thông tin cần thiết đồng thời vẫn bảo toàn được những cấu trúc quan trọng trong bức ảnh. Trong xử lý ảnh, một điểm có thể là biên nếu có sự thay đổi đột ngột về mức xám tại vị trí điểm ảnh đó. Tập hợp các điểm biên gần nhau tạo thành biên hay đường bao của ảnh.
Một số kiểu đường biên thường gặp là: Biên dạng nhảy bậc, biên dốc, biên dạng xung vuông, biên dạng hình nón. (a) Biên dạng nhảy bậc (b) Biên dốc (c) Biên dạng xung vuông (d) Biên dạng hình nón Hình 2.3: Các dạng đường biên thường gặp [3] Trên thực tế ảnh thường các điểm ảnh thường có sự thay đổi mức xám đột ngột và không đồng nhất, đặc biệt là ảnh nhiễu với các nguyên nhân thiết bị nhập ảnh, cường độ ánh sáng, nhiệt độ, chuyển động, hiệu ứng áp suất. Các đường biên lúc này trở nên gồ 18 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN ĐOẠN ẢNH Y SINH ghề, mấp mô, đứt đoạn.
Các phương pháp phát hiện biên truyền thống thường dựa trên kết quả của phép tích chập (convolution) giữa bức ảnh cần nghiên cứu f (x, y) và một bộ lọc 2D h(x, y) thường được gọi là mặt nạ (mask). Thông thường mặt nạ là một ma trận 3x3, có tác dụng như một bộ lọc thông cao để làm nổi rõ biên và loại bỏ các chi tiết khác. Tùy cách chọn mặt nạ mà có các phương pháp do biên khác nhau. Việc phân đoạn ảnh dựa vào đường biên được tiến hành qua các bước: 1.
Phát hiện và làm nổi biên 2. Làm mảnh biên 3. Nhị phân hoá đường biên 4. Mô tả biên Có nhiều phương pháp phát hiện biên đang được áp dụng, tuy nhiên ta có thể phân thành hai nhóm cơ bản là phát hiện biên dùng Gradient và phương pháp Laplacian.
Phương pháp phát hiện biên dùng Gradient (sử dụng các toán tử Roberts, Prewitt, Sobel, Canny) dựa vào tính giá trị cực đại và cực tiểu của đạo hàm bậc nhất của ảnh. Phương pháp Laplacian sẽ tìm kiếm những điểm có giá trị 0 khi lấy đạo hàm bậc hai của ảnh.1 Phương pháp Gradient Phương pháp gradient là phương pháp dò biên cục bộ dựa vào cực đại của đạo hàm bậc nhất. Theo định nghĩa, gradient là một vector có các thành phần biểu thị tốc độ biến đổi các giá trị theo hai hướng x, y được tính theo công thức 2.4) ∂y dy 19 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN ĐOẠN ẢNH Y SINH Trong đó dx, dy là khoảng cách giữa các điểm ảnh theo hướng x và y.
Thực tế người ta hay dùng dx = dy = 1. Với một ảnh liên tục f (x, y), các đạo hàm riêng cho phép xác định vị trí cực đại cục bộ theo hướng của biên. Biên độ và hướng của gradient được xác định dựa trên sự kết hợp của cả hai giá trị đạo hàm riêng này theo công thức 2.6) gy (x, y) Thực ra đạo hàm của ảnh không tồn tại vì f (x, y) không liên tục. Ở đây ta chỉ mô phỏng theo ý nghĩa của đạo hàm.
Ngoài việc tính gradient theo hướng x, y, có thể áp dụng mở rộng theo các hướng khác. Việc này thường được thực hiện bằng cách tích chập ảnh f (x, y) với các mặt nạ khác nhau. Một số mặt nạ thường được áp dụng là Sobel, Prewitt, Robert. Toán tử Robert Toán tử Robert là một trong những phương pháp dò biên đầu được đề xuất bởi Lawrence Roberts năm 1963.
Trong phương pháp này, đạo hàm riêng theo hai hướng gx , gy tại điểm ảnh I(i, j) được tính theo công thức 2.8) Điều này tương đương với việc tích chập ảnh với hai mặt nạ H1 và H2 như chỉ ra trong công thức 2. TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN ĐOẠN ẢNH Y SINH trong đó: 10 −1 0 H1 = H2 = (2.11) −1 0 0 −1 Toán tử Robert thường phù hợp để phát hiện biên có hướng chéo. Tuy nhiên do mặt nạ của Robert khá nhỏ nên kết quả là bị ảnh hưởng khá nhiều của nhiễu. Toán tử Sobel Toán tử Sobel sử dụng hai mặt nạ có kích thước 3x3 H1 , H2 (2.12 ) trong đó một mặt nạ chỉ đơn giản là sự quay của mặt nạ kia đi một góc 90 độ.
Khi thực hiện phép tích chập giữa ảnh và các mặt nạ này, ta nhận được gradient theo chiều đứng và ngang gx , gy .12) 0 0 +1 +2 +1 −1 0 +1 Do cấu tạo của mặt nạ, toán tử Prewitt phù hợp để dò các đường biên theo chiều đứng và chiều ngang. Toán tử Prewitt Toán tử Prewitt gần giống với toán tử Sobel, nhưng có sự điều chỉnh về hệ số trong mặt nạ trên các chiều ngang và đứng (2.13) 0 0 +1 +1 +1 −1 0 +1 Việc giảm các hệ số theo chiều ngang và đứng giúp việc dò biên ít chịu ảnh hưởng của nhiễu hơn, đường biên phát hiện được mảnh hơn, nhưng cũng có thể sẽ bỏ sót các đường biên mờ. TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN ĐOẠN ẢNH Y SINH Hình 2.4 minh hoạ kết quả dò biên với các toán tử Robert, Sobel và Prewitt.4: Các phương pháp dò biên dựa trên Gradient [4, 5, 6] 2.2 Phương pháp Canny Các phương pháp dựa trên Gradient có nhược điểm chung là biên được phát hiện có cấu trúc không rõ nét do các đường biên mờ, dày (độ rộng hơn 1 pixel) và thường phải kết hợp với các bước xử lý tiếp theo như loại bỏ các điểm không phải cực trị (nonmax- imum suppression), làm mảnh biên (Edge thinning), liên kết biên (edge linking).