Chương I1: Giới thiệu tình hình tín dụng nông thôn Việt Nam, mục tiêu va phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Đưa ra một số cơ sở lý luận cho nghiên cứu này. Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu được áp dụng; Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận nghiên cứu, một số hạn chế của nghiên cứu và hàm ý chính sách mà tác giả đề xuất.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và kết quả các nghiên cứu trước 2. Lược khảo lý thuyết 2. Tín dụng nông thôn Định nghĩa: Tín dụng nông thôn là phần hỗ trợ nguồn vốn của các tổ chức tín dụng cho các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở vùng nông thôn (Pham, 2013). Tại Việt Nam, hoạt động của tín dụng nông thôn được coi là mục tiêu chung của quốc gia trong phát triển kinh tế và đời sống.
Đặc điểm của tín dụng nông thôn: Theo Klein va cộng sự (1999), tín dụng nông thôn có các đặc điểm sau: Chỉ phí giao dịch cao: Khoảng cách địa lý giữa tổ chức tín dụng và khu vực nông thôn xa nhau, thậm chí một số khu vực có sở hạ tầng kém phát triển, ảnh hưởng đến việc đi lại và trao đổi thông tin, do đó, việc giao dịch giữa tổ chức tín dụng và người vay sẽ tốn nhiều thời gian va chi phí hơn. Điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của các hộ. Rúi ro cao: Một đặc điểm khác của thi trường tín dụng nông thôn là rủi ro cao. Rủi ro cao bắt nguồn thì các hoạt động cho vay vùng sản xuất nông nghiệp.
Hoạt động nông nghiệp thường bị ảnh hưởng bởi thời tiết và khí hậu bất lợi, trong khi đó, thu nhập từ hoạt động nông nghiệp thấp, nếu điều kiện tự nhiên bất lợi sẽ làm nguồn lợi nông nghiệp giảm đáng kế. Khi đó, khả năng vỡ nợ cao do không thanh toán được khoản vay. Để giảm rủi ro, tổ chức tín dụng cung cấp khoản vay kèm theo yêu cầu thế chấp tài sản. Lợi nhuận thấp: Sinh lợi kỳ vọng của ngành nông nghiệp tương đối thấp, đa số hộ dân lấy công làm lời.
Hơn nữa, đa số giá sản phâm nông nghiệp bị ép giá nếu cung tăng, do đó, hộ gia đình thường trong tình huống bị động khi quyết định giá của họ. Do đó, các khoản vay cho hoạt động nông nghiệp có lợi nhuận thấp hơn so với các ngành công nghiệp, dịch vụ. Vai trò của tín dụng nông thôn: Tín dụng nông thôn giúp tăng khả năng tài chính cho những hộ có nguồn vốn hạn chế trong việc mua nguyên liệu đầu vào và đầu tư hiệu quả. Hơn nữa, nhờ đủ nguồn vốn, hộ gia đình có thể mua thêm máy móc, thiết bị, cập nhật và học hỏi công nghệ, đây là chìa khóa giúp tăng năng suất lao động và giảm rủi ro trong sản xuất (Rosenzweig và Bingswanger, 1993).
Ngoài ra, cung cấp tín dụng mang lại hiệu qua trong phân bổ nguồn lực về tài chính. Các hộ gia đình nông thôn và các doanh nghiệp có nhiều khác biệt trong việc tiết kiệm, đầu tư và lựa chọn các cơ hội khác nhau ở bất kỳ thời điểm cụ thể nào. Vì vậy, có những trường hợp một số hộ gia đình hoặc doanh nghiệp trong tình trạng dư thừa nguồn vốn trong khi số khác có thé thiếu nguồn vốn. Do thiếu thông tin, không ai biết được người nào có nguồn tiết kiệm và người nào cần vay, dé giải quyết vân đề này, tô chức trung gian tài chính thành lập với vai trò cầu nối giữa hai bên, giúp thu hẹp khoảng cách giữa người tiết kiệm và người vay, đồng thời phân bổ lại nguồn vốn trong xã hội hiệu quả.
Hoạt động tín dụng ở khu vực nônø thôn Việt Nam: Các tổ chức tín dụng hoạt động dựa trên quy mô, đối tượng cho vay khác nhau, chịu sự quản lý của nhà nước hoặc không chịu sự quản lý của nhà nước. Theo nghiên cứu của Pham (2013) về thị trường tín dụng nông thôn, có thê chia thị trường tín dụng nông thôn Việt Nam thành hai nhóm chính: tín dụng chính thức và phi chính thức, hai hình thức tín dụng này hoạt động xen kẽ và hỗ trợ cho nhau. Tín dụng chính thức: Hoạt động dưới sự quản lý của Ngân hàng nhà nước. Các tổ chức tín dụng chính thức thường yêu cầu tài sản thế chấp cho những khoản vay của các đối tượng vay vốn như: người thuê nhà, người lao động có thu nhập từ lương, hộ sản xuất nhỏ và các doanh nghiệp nông thôn quy mô nhỏ.
Trong khu vực các tổ chức tín dụng chính thức, đứng đầu và chiếm vai trò chính là Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (VBARD), lãi suất của VBARD được xác định theo khung lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN). VBARD có các chỉ nhánh đến cấp huyện và rất ít đến cấp xã, do đó, nguồn vốn đến khu vực nông thôn còn hạn chê Tín dụng phi chính thức: các khoản vay từ nguồn tín dụng phi chính thức thường không yêu cầu tài sản thế chấp, gồm các khoản vay mượn từ người thân, bạn bè và hàng xóm, các khoản tín dụng xoay vòng “hụi”, và khoản vay từ người cho vay. Một hình thức tín dụng phi chính thức được hình thành gần đây trong đó tín dụng được cấp bởi thương nhân địa phương hoặc các nhà cung cấp đầu vào cho sản xuất nông nghiệp. Hình thức tín dụng này dần trở thành một bộ phận quan trọng của tín dụng phi chính thức.
Lợi thế của tín dụng phi chính thức: gần gũi với hộ gia đình, có thé tiép cận bất cứ lúc nào, khu vực hoạt động linh động, quy trình nhanh mà không cần tài sản thế chấp, trả nợ linh động và chỉ phí giao dịch thấp. Do đó, những hộ không có tài sản thế chấp và cần khoản vay nhỏ thường tiếp cận nguồn tín dụng phi chính thức. Cung tín dụng chính thức ở nông thôn được thực hiện thông qua hình thức cho vay cá nhân và thông qua các chương trình tín dụng vi mô. Kênh tín dụng này được cho là cải thiện đáng kể khả năng tiếp cận tín dụng của hộ.
Tuy nhiên, do thông tin bất cân xứng trong thị trường tín dụng, cơ chế sàng lọc trong thị thường tín dụng chính thức đã loại trừ một số người nghèo không đủ điều kiện vay vốn ra khỏi thị trường. Ở Việt Nam, Pham và Izumida (2002) chỉ ra rằng hơn 30% hộ nông dân không thể vay từ người cho vay chính thức. Khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng chính thức bị hạn chế dẫn đến các hộ gia đình này phụ thuộc nhiều hơn vào các nguồn tín dụng phi chính thức. Tuy cùng tồn tại song song trong thị trường tín dụng nông thôn, hai phương thức cho vay chính thức và phi chính thức sử dụng các chiến lược sảng lọc khác nhau đề tránh lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức trong quá trình cho vay của họ.
Trong đó, các tổ chức tín dụng chính thức đánh giá rủi ro tín dụng dựa trên yếu tô lãi suất và lịch sử trả nợ của người vay. Trong khi đó, người cho vay phi chính thức đánh giá rủi ro tín dụng dựa trên đặc điểm của hộ đi vay, đặc biệt là mối quan hệ cá nhân giữa người cho vay và người đi vay. Thông tin bất cân xứng Lý thuyết chính của thông tin bất cân xứng trong thị trường tín dụng nông thôn bắt nguồn từ nghiên cứu của Hoff & Stiglitz (1990). Quan điểm về thị trường tín dụng làm tiền dé cho Stiglitz (1990): Thứ nhất, mỗi người vay có khả năng trả nợ khác nhau, do đó người cho vay phải tốn rất nhiều chi phi để xác định mức độ rủi ro của từng người vay (Thông tin bắt cân xứng — imperfect information).
Đây được gọi là vấn đề thanh loc — screening (Hoff va Stiglitz 1990). Để khắc phục vẫn đề thiếu thông tin ban đầu, người cho vay mat nhiều thời gian và nguồn lực dé sàng lọc đối tượng vay vốn khi không có sẵn dữ liệu thông tin tín dụng, thậm chí khi có được thông tin tín dụng thì chưa chắc tin cậy được do nguồn thông tin sai lệch nhiều. Thứ hai, người cấp tín dụng sẽ tốn chỉ phí để xác định coi người đi vay có sử dụng khoản vay đúng mục đích hay không. Khi không thực hiện đúng cam kết về mục đích vay, người vay có thể sử dụng vốn không hợp pháp, dẫn đến nguồn trả nợ không đảm bảo như ban đầu thỏa thuận.
Do đó, người cấp tin dung can theo doi và khuyến khích người vay thực hiện đúng theo cam kết ban đầu. Đây là vấn đề khuyến khich — incentive problem. Thứ ba, sau khi nhận được nguồn vốn, người cấp tín dụng sẽ khó bắt buộc người vay trả nợ theo cam kết hợp đồng ban đầu. Trường hợp sai phạm hợp đồng có thể xuất phát do biến cố cuộc sống, gây khó khăn trả nợ hoặc nhận thức kém của người vay, người vay ỷ y cho rằng việc chậm trễ thanh toán không gây khó khăn khi vay vốn trong tương lai.
Do đó, người cấp tín dụng phải có những biện pháp tạo ra động lực cho người đi vay thực hiện đúng các cam kết. Đây là vấn đề thực thi — emforcement problem. Với ba vấn đề trên, tổ chức cấp tín dụng sẽ cân nhắc cho vay dựa trên các đặc điểm của người cho vay để hạn chế tối đa rủi ro khi cho vay và các chỉ phí phát sinh khi xảy ra các vân đê nêu trên. Thông tin bất cân xứng gây ra hai hành vi phổ biến là lựa chọn bất lợi và tâm lý y lai.
Lựa chọn bất lợi là hành động trước khi ký hợp đồng vay vốn. Tâm lý y lai là hành động sau khi ký hợp đồng, ca hai hành vi này đều của bên có nhiều thông tin hơn, ảnh hưởng tiêu cực đến bên ít thông tin. Thông tin bất cân xứng trong thị trường tín dụng phát sinh vì người vay vốn có thông tin tốt hơn về rủi ro vỡ nợ của họ hơn các tổ chức cấp tín dụng (Aleem, 1990). Người vay hiểu rõ mục đích vay vốn, khả năng trả nợ của mình, trong khi đó, bên cho vay là các tổ chức tín dụng chỉ nắm bắt thông tin từ đữ liệu mà người vay cung cấp, nếu người vay cô tỉnh cung cấp thông tin sai thì người cho vay sẽ bị thiệt hại khi đã giải ngân món vay.
Vì vậy, với sự bất cân xứng về thông tin này, người cho vay sẽ thiết lập tiêu chuẩn cho vay và kiểm tra thông tin riêng để hạn chế thấp nhất rủi ro khi cho vay.