Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Khái niệm khả năng sinh lời Kinh doanh là hoạt động được thực hiện nhắm mục đích sinh lợi, tức là nhằm mục đích kiếm lợi nhuận. Trên cơ sở điều kiện vật chất – kỹ thuật sẵn có của mình, các doanh nghiệp luôn tìm mọi biện pháp thích hợp để thu được mức lợi nhuận tối đa. Khả năng sinh lời hay khả năng tạo ra lợi nhuận thể hiện sức mạnh của doanh nghiệp trong việc tạo ra lợi nhuận, nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng khả năng sinh tiền, sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả (Murugesu, 2013).
Lợi nhuận có thể trở thành thước đo tốt về hiệu quả của doanh nghiệp, vì thế chúng ta có thể sử dụng khả năng sinh lời như là một thước đo hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, cũng như khả năng sinh lời là lời hứa duy trì hoạt động liên tục trong tương lai (Hina Agha, 2014). Velmathi (2015) cho rằng khả năng sinh lời là một dấu hiệu thể hiện rằng doanh nghiệp đã đạt được một mức độ thu nhập nhất định. Khả năng sinh lời là khả năng tạo được lợi nhuận và là một yếu tố quan trọng đóng góp cho sự tồn tại của doanh nghiệp. Từ những khái niệm trên, tác giả rút ra khái niệm: Khả năng sinh lời thể hiện khả năng tạo ra lợi nhuận và phản ánh hiệu quả của doanh nghiệp.
Khả năng sinh lời như là một thước đo hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Đo lường khả năng sinh lời Khả năng sinh lời phản ánh kết quả hoạt động, đánh giá hiệu quả kinh doanh và mức độ phát triển doanh nghiệp. Doanh nghiệp có khả năng sinh lời cao sẽ có khả năng tích luỹ cao, sẽ có điều kiện trang bị, đầu tư công nghệ mới, hiện đại. Theo thông lệ quốc tế người ta thường đo lường khả năng sinh lời của doanh nghiệp bằng các chỉ tiêu định lượng: giá trị tuyệt đối của lợi nhuận sau thuế, tốc độ 8 tăng trưởng lợi nhuận, cơ cấu của lợi nhuận (cho biết lợi nhuận được hình thành từ nguồn nào) và đặc biệt là các chỉ tiêu tỉ suất lợi nhuận trên vốn tự chủ sở hữu (ROE), lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA).
Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả sử dụng tỷ lệ ROA và ROE để phân tích khả năng sinh lời của doanh nghiệp theo nghiên cứu của Pevan và cộng sự (2019). Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) được thiết kế để đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản doanh nghiệp. Tỷ lệ này được xác định bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế chia cho tổng tài sản bình quân trong kỳ. Tỷ lệ này cho biết bình quân mỗi đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
Tỷ lệ này phụ thuộc rất nhiều vào kết quả kinh doanh trong kỳ và đặc điểm của ngành sản xuất kinh doanh. Các ngành như dịch vụ, du lịch, tư vấn, thương mại… tỷ lệ này thường rất cao, trong khi các ngành như công nghiệp chế tạo, ngành hàng không, ngành đóng tàu, ngành công nghiệp nặng … tỷ lệ này thường rất thấp. Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản được tính như sau (Pevan và cộng sự, 2019): Lợi nhuận sau thuế Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản = Tổng tài sản bình quân Tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản (ROA) thể hiện khả năng của đơn vị trong việc sử dụng các tài sản của mình để tạo ra lợi nhuận. Thang đo ROA là số thập phân.
ROA càng cao thể hiện khả năng quản lý của Ban quản trị doanh ngiệp trong việc chuyển tài sản thành lợi nhuận ròng. Thể hiện hiệu quả kinh doanh cao của doanh nghiệp với cơ cấu tài sản sinh lời và không sinh lời khá hợp lý. Tuy nhiên, ROA quá cao không phải là tín hiệu tốt đối với các doanh nghiệp vì trong tình huống đó, doanh nghiệp rơi vào tình trạng rủi ro cao do lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro có mối quan hệ thuận chiều. Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) 9 Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu thiết kế để đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn cổ phần phổ thông.
Tỷ lệ này được xác định bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế chia cho vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ. Thang đo ROE là số thập phân. Tỷ lệ này cho biết bình quân mỗi đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Tỷ lệ này phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ, quy mô và mức độ rủi ro của doanh nghiệp.
Tỷ lệ này phản ánh một cách chính xác khả năng sinh lời từ toàn bộ vốn cổ đông đóng góp, ngoài ra còn bao gồm cả lợi nhuận dành cho các quỹ phát triển kinh doanh, chênh lệch phát hành. Trên thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư thường quan tâm đến chỉ số này để đưa ra quyết định hợp lý nhất cho việc tìm ra những cổ phiếu tăng trưởng ổn định. Tỷ lệ này càng cao càng chứng tỏ doanh nghiệp này sử sụng đồng vốn có hiệu quả, khả năng thu hồi vốn của các cổ đông cao, và giá cổ phiếu của doanh nghiệp này trên sàn giao dịch chứng khoán càng cao. Tỷ lệ này suy giảm là một bằng chứng cho thấy việc đầu tư của doanh nghiệp không mang lại hiệu quả so với thời gian trước đây.
Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu được tính như sau (Pevan và cộng sự, 2019): Lợi nhuận sau thuế Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản = Vốn chủ sở hữu bình quân Các chỉ tiêu ROA, ROE thường được các nhà quản trị, các nhà đầu tư quan tâm, sử dụng khi đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh, chúng thể hiện khả năng, thời hạn thu hồi vốn đầu tư của chủ sở hữu. Hiệu quả sử dụng vốn và tài sản của doanh nghiệp càng cao là cơ sở để doanh nghiệp tăng quy mô vốn cũng như năng lực tài chính của mình. Các lý thuyết nền tảng giải thích cho vấn đề các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp 2. Lý thuyết cấu trúc- hiệu quả (ES - efficient structure) 10 Demsetz (1973) đề xuất lý thuyết cấu trúc hiệu quả (ES - efficient structure), đã cho rằng các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả nhất khi đạt được cả lợi nhuận và thị phần cao hơn.
Các doanh nghiệp tăng khả năng sinh lời là kết quả gián tiếp của việc cải thiện hiệu quả quản trị công ty. Murugesu (2013) cho rằng khi doanh nghiệp niêm yết có khả năng sinh lời tốt sẽ thu hút thêm nhiều nhà đầu tư, khách hàng, nhà cung cấp; giúp nhân viên và nhà quản lý doanh nghiệp làm việc tốt hơn, từ đó tác động làm cho khả năng sinh lời của doanh nghiệp tốt hơn. Hơn nữa lý thuyết cấu trúc -hiệu quả (ES - efficient structure) cho rằng, mối quan hệ giữa cấu trúc thị trường và hiệu quả của công ty được xác định bởi hiệu quả công ty hay nói cách khác hiệu quả công ty tạo nên cấu trúc thị trường. Theo đó, các doanh nghiệp đạt được khả năng sinh lời cao hơn là do chúng hoạt động hiệu quả hơn (Sivathaasan và cộng sự, 2013).
Tiếp cận theo hướng hiệu quả khi so sánh đầu vào và đầu ra (X-Efficiency), Demsetz (1973) còn cho rằng các công ty hiệu quả cao bởi vì họ có khả năng giảm thiểu chi phí sản xuất ở bất kỳ sản lượng đầu ra nào. Đối với hướng tiếp cận hiệu quả theo quy mô (Scale - Efficiency), Demsetz (1973) đã mô tả mối quan hệ ở trên được giải thích dựa theo quy mô. Các doanh nghiệp lớn hơn có chi phí sản xuất thấp hơn, nhờ đó lợi nhuận cao hơn là nhờ tính kinh tế theo quy mô (Olweny và Shipho, 2011). Như vậy, có thể thấy lý thuyết cấu trúc hiệu quả cho rằng, khả năng sinh lời của doanh nghiệp là một hàm chịu ảnh hưởng của hiệu quả nội bộ và các quyết định quản trị, tức là các yếu tố bên trong.
Điều này giải thích các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Lý thuyết nguồn lực (Resource-Based Theory) Quan điểm dựa trên tài nguyên của công ty (Resouce-Based View – RBV) và lý thuyết nguồn lực (Resource-Based Theory – RBT) cung cấp một khuôn khổ quan trọng để giải thích và dự đoán cơ sở của lợi thế cạnh tranh và hiệu quả của một công ty (Barney và cộng sự, 2011; Slotegraaf và cộng sự, 2003). Mặc dù các công trình trước đây đã xác định các nguồn lực tổ chức là quan trọng đối với thành 11 công của một công ty (Penrose 1959), nhưng mãi đến những năm 1980, quan điểm dựa trên tài nguyên của công ty mới bắt đầu hình thành. Vào thời điểm đó, theo Peteraf và Barney (2003), một công ty đạt được lợi thế cạnh tranh khi có thể tạo ra giá trị kinh tế cao hơn so với đối thủ cạnh tranh (hòa vốn) trong thị trường sản phẩm của mình.
Quan điểm dựa trên tài nguyên (RBV) làm cơ sở cho lợi thế cạnh tranh của một công ty chủ yếu nằm ở việc áp dụng một gói các tài nguyên hữu hình hoặc vô hình có giá trị theo mong muốn của công ty (Mwailu & Mercer, 1983). Để chuyển đổi một lợi thế cạnh tranh ngắn hạn thành lợi thế cạnh tranh bền vững đòi hỏi các tài nguyên này không đồng nhất về bản chất và không hoàn toàn di động (Peteraf, 1993). Thực tế, điều này chuyển thành các tài nguyên có giá trị mà không thể bắt chước một cách hoàn hảo cũng như không thể thay thế mà không cần nỗ lực lớn (Barney, 1991). Nếu các điều kiện này được duy trì, gói tài nguyên có thể duy trì lợi nhuận trên trung bình của công ty.
RBV gợi ý rằng các tài nguyên mà một công ty sở hữu là những yếu tố chính quyết định hiệu quả hoạt động và những điều này có thể đóng góp cho lợi thế cạnh tranh bền vững của công ty (ví dụ, Hoffer & Schendel, 1978; Wenerfelt, 1984). Theo Barney (1991), khái niệm tài nguyên bao gồm tất cả tài sản, nguồn vốn, khả năng, quy trình tổ chức, thuộc tính công ty, thông tin, kiến thức. được kiểm soát bởi một công ty cho phép công ty hình thành và thực hiện các chiến lược nâng cao hiệu quả (Barney, 1991; Daft, 1983).