CHƯƠNG 1 Trong phần giới thiệu tổng quan, tác giả đã trình bày lý do chọn đề tài nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến KNSL của các doanh nghiệp ngành lương thực, thực phẩm niêm yết ở Việt Nam. Từ đó, tác giả đưa ra các mục tiêu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Bên cạnh đó, tác giả cũng cho thấy được khoảng trống nghiên cứu của các nghiên cứu trước đây. 7 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA DOANH NGHIỆP 2.
Khái niệm về khả năng sinh lời Theo Pandey (1980), KNSL là khả năng kiếm được lợi nhuận của một doanh nghiệp. KNSL diễn giải lợi nhuận liên quan đến các yếu tố khác. KNSL phân tích các biện pháp và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp về lợi nhuận mà doanh nghiệp kiếm được liên quan đến đầu tư của các cổ đông hoặc vốn được sử dụng trong doanh nghiệp hoặc liên quan đến doanh thu. Malik (2011) cho rằng KNSL là một trong những thước đo, mục tiêu quan trọng nhất của quản lý tài chính.
Mục tiêu của quản lý tài chính là tối đa hóa sự giàu có của chủ sở hữu và KNSL là yếu tố quyết định rất quan trọng sự thành bại của doanh nghiệp. KNSL liên quan chặt chẽ đến lợi nhuận nhưng có điểm khác biệt chính. Trong khi lợi nhuận là một số tiền tuyệt đối, KNSL là tương đối. Để đánh giá KNSL của doanh nghiệp thường dùng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vì nó thể hiện mối quan hệ giữa lợi nhuận và chi phí sản xuất thực tế.
Theo từ điển Kinh tế học (Nguyễn Văn Ngọc, 2012) KNSL là một con số đánh giá khả năng tạo ra lợi nhuận của một doanh nghiệp trong thời gian dài, giả sử tất cả các điều kiện hoạt động hiện tại nói chung là không đổi. KNSL phản ánh mối quan hệ giữa quy mô và lợi nhuận của một doanh nghiệp trong một thời hạn nhất định. Thông thường, KNSL của doanh nghiệp sẽ được tính bằng công thức tổng lợi nhuận chia cho tổng tài sản sử dụng, số người lao động hoặc khối lượng tư bản dài hạn. Nói một cách dễ hiểu, KNSL là khả năng một doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực của mình để tạo ra doanh thu vượt quá chi phí của mình.
Trong doanh nghiệp, KNSL còn được xem là kết quả của việc sử dụng tài sản nguồn vốn và các tài sản cơ sở vật chất. KNSL đủ lớn sẽ giúp doanh nghiệp duy trì vốn để đảm bảo hoạt động SXKD của doanh nghiệp diễn ra bình thường, đảm bảo 8 hoàn trả được các khoản vay cũng như tăng vốn đầu tư. Ngược lại, nếu KNSL của doanh nghiệp không đủ lớn sẽ có thể ảnh hưởng đến việc duy trì hoạt động SXKD của doanh nghiệp do thiếu các phương tiện và các yếu tố SXKD và thặng dư sẽ không đủ để duy trì sự cân bằng tài chính trong doanh nghiệp. Các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời Để đánh giá KNSL của doanh nghiệp thì các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận thường được sử dụng, vì nó biểu hiện mối quan hệ giữa lợi nhuận và chi phí sản xuất thực tế, thể hiện trình độ kinh doanh của các nhà kinh doanh trong việc sử dụng các yếu tố đó.
Theo Lesakova (2007) các tỷ suất sinh lời là một chỉ số về sức khỏe tài chính của doanh nghiệp có tốt hay không và làm thế nào để doanh nghiệp có hiệu quả trong việc quản lý tài sản của mình. Có hai chỉ tiêu tỷ suất sinh lời thường dùng là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE). Tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản – Return on assets (ROA) Trong quá trình tiến hành những HĐKD, doanh nghiệp mong muốn mở rộng quy mô sản xuất, thị trường tiêu thụ nhằm tăng trưởng, nâng cao hiệu quả tài chính. Do vậy các nhà quản trị doanh nghiệp thường đánh giá hiệu quả sử dụng các tài sản đã đầu tư đã sử dụng tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản để đánh giá.
Theo Phan Đức Dũng (2008), tỷ số lợi nhuận trên tài sản là một tỷ số tài chính dùng để đo lường KNSL trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp. Tỷ số này được tính ra bằng cách lấy lợi nhuận ròng (hoặc lợi nhuận sau thuế) của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo chia cho tổng giá trị tài sản bình quân của doanh nghiệp trong cùng kỳ. Công thức được xác định như sau: 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑟ò𝑛𝑔 Tỷ số lợi nhuận trên tài sản = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 Chỉ tiêu này cho thấy rằng một đồng tài sản doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng cho doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao thì cho thấy tình hình SXKD của công ty càng khả quan.
Công ty đang sử dụng tài sản hiệu 9 quả, để tạo ra nhiều hơn lợi nhuận ròng, từ đó có thể tiếp tục tái sản xuất, mua thêm tài sản, máy móc thiết bị, để phục vụ cho hoạt động sản xuất, mở rộng và phát triển doanh nghiệp. Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu – Return on equity (ROE) Khả năng tạo ra lợi nhuận của VCSH mà doanh nghiệp sử dụng cho HĐKD là mục tiêu của mọi nhà quản trị doanh nghiệp. Theo Phan Đức Dũng (2008), tỷ số lợi nhuận trên VCSH là một tỷ số tài chính dùng để đo lường KNSL của doanh nghiệp bằng việc sử dụng nguồn lực từ VCSH. Tỷ số này được tính ra bằng cách lấy lợi nhuận ròng (hoặc LNST) của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo chia cho VCSH bình quân của doanh nghiệp trong cùng kỳ.
Công thức được xác định như sau: 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑟ò𝑛𝑔 Tỷ số lợi nhuận trên VCSH = 𝑉𝐶𝑆𝐻 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 Chỉ tiêu này cho thấy rằng một đồng VCSH mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng cho doanh nghiệp.Chỉ tiêu này càng cao thì cho thấy tình hình SXKD của Công ty càng khả quan. Công ty đang sử dụng các đồng vốn hiệu quả, góp phần nâng cao khả năng đầu tư của doanh nghiệp để tạo ra nhiều hơn lợi nhuận ròng. Đó cũng là nhân tố giúp nhà quản trị doanh nghiệp tăng VCSH từ đó mua thêm tài sản, máy móc thiết bị, để phục vụ cho hoạt động sản xuất, mở rộng và phát triển doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp, khả năng sinh lời là một chỉ tiêu tài chính phản ánh hiệu quả của toàn bộ quá trình đầu tư sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và những giải pháp kỹ thuật, quản lý kinh tế tại doanh nghiệp.
ROA có thể nói là thước đo cho toàn bộ KNSL của doanh nghiệp. Trong nghiên cứu này, bài nghiên cứu này sử dụng ROA là biến phụ thuộc, là chỉ số đại diện cho KNSL của doanh nghiệp. ROA quan trọng đối với nhà quản trị và điều hành doanh nghiệp vì những lý do sau: Thứ nhất, như đã nêu ở trên ROA là chỉ tiêu đo lường tốt nhất KNSL của toàn 10 bộ doanh nghiệp. Bài nghiên cứu này đứng trên quan điểm của nhà quản trị và người điều hành doanh nghiệp để xác định các nhân tố ảnh hưởng từ đó đưa ra các giải pháp nhằm xác định chiến lược để từ đó nâng cao hiệu quả HĐKD của doanh nghiệp.
Thứ hai, một doanh nghiệp hoạt động bên cạnh mục đích mang lại lợi ích tốt nhất cho các cổ đông và người nắm giữ thì còn phải nâng cao hiệu quả kinh doanh một cách toàn diện. Việc hình thành và duy trì hoạt động SXKD của một doanh nghiệp không chỉ có chủ sở hữu, các cổ đông mà còn có các chủ nợ (tổ chức, cá nhân bên ngoài được hình thành từ quan hệ vay-mượn, mua bán). Trong quy trình thanh toán cho các chủ nợ và cổ đông, việc chi trả nợ vay được ưu tiên trước khi xác định tỷ lệ chi trả cổ tức, điều này có nghĩa là việc xác định ROA là yếu tố được xem xét trước hết. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu khác nhau về các yếu tố ảnh hưởng đến KNSL của doanh nghiệp: 2.
Các nghiên cứu ở nước ngoài Bolek và Wiliński (2012) nghiên cứu sự tác động của quy mô doanh nghiệp, cơ cấu tài sản, cấu trúc vốn, hệ số thanh khoản, vòng quay khoản phải thu, vòng quay HTK, tốc độ tăng trưởng doanh thu và tốc độ tăng trưởng GDP đến KNSL của các công ty xây dựng niêm yết trên sàn GDCK Warsaw trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2010. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy rằng quy mô doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng GDP có tác động cùng chiều đến KNSL của doanh nghiệp (ROA), trong khi đó cơ cấu tài sản, cấu trúc vốn, vòng quay khoản phải thu và hệ số khả năng thanh toán lại có tác động ngược chiều. Sivathaasan và cộng sự (2013) đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến KNSL của các doanh nghiệp sản xuất được niêm yết trên thị trường chứng khoán Colombia trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến 2012.Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích hồi quy bội để đo lường mối quan hệ giữa các biến tác động bao gồm cấu trúc vốn, cấu trúc tài sản, quy mô doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng 11 đến KNSL của doanh nghiệp. Kết quả cho thấy rằng các biến độc lập giải thích được 76,6% mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến ROA và 84,7% đến ROE.Trong đó, chỉ có cấu trúc vốn có các tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến KNSL của các doanh nghiệp.
Yazdanfar (2013) chỉ ra rằng quy mô doanh nghiệp và tăng trưởng có tác động tích cực đến KNSL trong khi thời gian hoạt động của doanh nghiệp lại tác động tiêu cực đến KNSL của 12.530 doanh nghiệp vi mô phi tài chính hoạt động trong bốn lĩnh vực công nghiệp. Rehman và Khidmat (2014) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tính thanh khoản và KNSL trên 10 công ty ngành hóa học niêm yết ở Pakistan từ năm 2000 đến 2009, với biến đại diện cho KNSL của doanh nghiệp là ROA và các nhân tố ảnh hưởng tới KNSL được sử dụng trong nghiên cứu gồm tỷ số khả năng thanh toán nhanh, tỷ số khả năng thanh toán ngắn hạn, tỷ lệ nợ trên VCSH và tỷ lệ nợ trên tổng tài sản. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các tỷ số khả năng thanh toán có tác động tích cực và các nhân tố còn lại có tác động tiêu cực đến KNSL của doanh nghiệp.