Chương 1 NHỮNG VAN DE LÍ LUẬN VÀ LICH SỬ HÌNH THÀNH NGUYEN TAC SUY DOAN VÔ TOI TRONG PHÁP LUẬT QUOC TE, PHAP LUAT TO TUNG HÌNH SU PHAP VÀ VIET NAM 1. Những van đề lí luận về nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm nguyên tắc suy đoán vô tội trong tô tụng hình sự Nguyên tắc cơ bản của pháp luật là những tư tưởng chỉ đạo có tính chất nên tảng, định hướng, xuyên suốt quá trình xây dựng pháp luật, tô chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật!. Trên cơ sở khái niệm trên, có thê định nghĩa nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự là các tư tưởng chỉ đạo có tính chất nền tảng, định hướng quá trình xây dựng, tô chức thực hiện và bảo vệ pháp luật tố tụng hình sự.
Những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng hình sự có thé được ghi nhận trong luật nhưng cũng có thể có trong học thuyết pháp lí, trong các chính sách pháp lí, trong đường lối, chủ trương chính sách của Dang cam quyền, của Nhà nước cũng như trong thực tiễn đời sống?. Các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự là những quy định cơ bản, chung nhất, mang tính chỉ đạo, điều chỉnh các quan hệ tố tụng và các hoạt động tố tụng hình sự, được các văn bản pháp luật tố tụng hình sự ghi nhận. Các nguyên tắc cơ bản nay được quy định trong BLTTHS, đồng thời một số nguyên tắc còn được quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Những nguyên tắc của luật tố tụng hình sự được ghi nhận trong BLTTHS vừa là nguyên tắc của luật tố tụng hình sự, vừa là nguyên tắc của tố tụng hình sw’.
Có nhiều quan điểm khác nhau về phân loại các nhóm nguyên tắc cơ bản của luật t6 tụng hình sự. Có quan điểm chia thành các nguyên tắc hiến định và các nguyên tắc khác, tuy nhiên cho dù là nguyên tắc hiến định thì vẫn phải được quy định trong BLTTHS thì mới trở thành nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự. Có quan điểm chia thành các nguyên tắc chi phối tất cả các giai đoạn tố tụng và các nguyên tac chỉ điêu chỉnh một giai đoạn nhât định (như các nguyên tac : Nguyén Văn Động (2008), Lí luận về Nhà nước và pháp luật, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr.
ˆ Nguyên Văn Tuân (2015), Mộ số ván dé vé tuật to tụng hình sự, Nxb. Tu pháp, Ha Nội, tr. Nguyễn Văn Tuân (2015), M6t số van đề về luật tô tụng hình sự, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr.
Có quan điểm phân loại nguyên tắc theo tính dân chủ và tính pháp chế. Cách phân loại này dựa vào tính chất và mục đích, ý nghĩa của nguyên tắc nhưng rất khó dé phân chia rạch roi theo cách này vì bất cứ một nguyên tắc tố tụng hình sự nào cũng mang trong minh nó hạt nhân dân chủ và pháp chế!. Đề tài theo quan điểm phân chia nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự thành nhóm nguyên tắc đặc thù và các nguyên tắc khác?. Tiêu chí để phân loại theo hướng này đó là căn cứ vào tính đặc thù hay tính phổ biến của các nguyên tắc.
Là ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam cũng như hệ thống pháp luật Pháp, luật tố tụng hình sự chịu sự chi phối của các nguyên tắc chung của hệ thống pháp luật, vì vậy có những nguyên tắc không chỉ là nguyên tắc riêng có của luật tô tụng hình sự mà còn là nguyên tắc cơ bản của rất nhiều luật khác như nguyên tắc bảo đảm pháp chế, nguyên tắc mọi công dân đều bình đăng trước pháp luật v. Có những nguyên tắc không chỉ có trong luật tố tụng hình sự mà còn có trong luật tố tụng khác như các nguyên tắc xét xử còn là nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hành chính v. Ngoài các nguyên tắc có tính phô biến, luật tố tụng hình sự cũng có những nguyên tắc đặc thù không có ở các luật khác. Nguyên tắc đặc thù của luật tố tụng hình sự là những nguyên tac riêng biệt, chỉ có trong luật tô tụng hình sự.
Nguyên tắc suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc đặc thù của luật tô tụng hình sự. Bảo đảm quan trọng cho bảo vệ quyền con người, quyền công dân, lá chắn quan trọng và vững chắc nhất đối với quyền con người, quyền công dân nhăm phòng ngừa và ngăn chặn những vi phạm từ phía các cơ quan tố tụng là việc thừa nhận và ghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội. Đây là nguyên tắc “kinh điển ” nhất của tô tụng hình sự được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế quan trong, là “phẩm giá của văn minh nhân loại ”°. Nguyên tắc suy đoán vô tội là nguyên tắc quan trọng, có tính chất nền tang, chi phối nhiều nguyên tắc khác của tố tụng hình su*.
Nguyên tắc suy đoán vô tội được ghi nhận trong pháp luật quốc Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật (1994), 7ôi phạm học, luật hình sự và luật to tung hinh su Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Ha Nội, tr. ? Trường Dai học Luật Hà Nội (2019), Giáo trinh Luật to tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.
Đào Trí Úc (2016), “Hệ thống những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Việt Nam theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”, Nguyễn Hòa Bình— Chủ biên (2016), Những nội dung mới trong Bộ luật Tổ tụng hình sự năm 2015, Nxb. Chính trị Quốc gia — Sự thật, Hà Nội, tr. Nguyễn Hòa Bình (2016), “Bảo đảm quyền con người, quyền công dân — tư tưởng xuyên suốt trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”, Nguyễn Hòa Bình — Chủ biên (2016), Những nội dung mới trong Bộ luật Tổ tụng hình sự năm 201 5, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.
14 tế và pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Pháp và Việt Nam. Theo tác giả Đỗ Đức Minh, “cội nguồn của nguyên tắc này từ thời La Mã cổ đại, theo đó, trách nhiệm chứng minh thuộc về bên t6 cáo, thuộc bên khẳng định chứ không phải thuộc bên phủ định. Sau đó, các triểu đại La Mã đã áp dụng nguyên tắc này trong quá trình xét xử hình sự và bắt dau khang định nghĩa vụ chứng minh thuộc về bên buộc tội và một hệ quả tắt yếu là bị cáo luôn được coi là vô tội ”". Thuật ngữ “suy đoán” bắt nguồn từ tiếng Latinh “praesumptino”, nghĩa là suy đoán một vấn đề nào đó là chân lý cho đến khi chưa bị bác bỏ.
Tuy nhiên, có quan điểm không tán thành thuật ngữ “swy đoán” khi cho rằng: Dai từ điển tiếng Việt định nghĩa “swy đoán” là “dựa vào diéu đã biết mà đoán ra điều chưa biết” còn “gia định” là “đưa ra một kha năng như có thật” và đề xuất nguyên tac “presumption of innocence” cần được dich là “giả định vô toi” như Thomas Weigend lập luận, “guyên giả định vô tội không phải là một sự suy đoán mà là sự giả định hoặc sự giả tưởng pháp lý (legal fiction): chúng ta làm ra vẻ (pretend) một người bị cáo buộc thực hiện một tội phạm không thực hiện tội phạm do’?. Trong công trình nghiên cứu nay, chúng tôi tiếp tục sử dụng thuật ngữ “suy đoán vô tội” theo truyền thống khoa học luật tố tụng hình sự Pháp và Việt Nam. Tư tưởng về suy đoán vô tội chỉ trở thành nguyên tắc pháp luật khi Cách mạng tư sản Pháp thang lợi cùng với đó là đòi hỏi ngày càng gay gắt của xã hội cần phải có biện pháp hạn ché, chống lại sự chuyên quyên, độc đoán, xâm phạm thô bạo quyền con người từ phía nhà nước. Đây là nguyên tắc có ý nghĩa quan trọng nhằm ghi nhận giá trị quyền con người và đã được xác định trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế như: Tuyên ngôn nhân quyền và dan quyền năm 1789 của Pháp (Điều 9), Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 (khoản 1 Điều 11), Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị năm 1966 (khoản 2 Điều 14).
Nguyên tắc suy đoán vô tội thường được hiểu bao gồm những vấn đê sau: một người có quyên được suy đoán là vô tội trong quá trình giải quyết ' Đỗ Đức Minh (2020), “Bàn về nguyên tắc suy đoán vô tội”, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap- luat/ban-ve-nguyen-tac-suy-doan-vo-toi (truy cập ngày 29/5/2023). > Thomas Weigend, “Assuming that the Defendant is not Guilty: The presumption of innocence in the German system of criminal justice” (2014) 8 (2) Criminal Law and Philosophy 285, tr. Dan theo Bui Tiến Dat (2015), “Quyền giả định vô tội và quyền im lặng: Ly thuyết và thách thức từ thực tiễn”, Nghiên cứu lập pháp (22), tr. 15 vụ án cho đến khi có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật đối với họ; việc chứng minh tội phạm thuộc về bên buộc tội, người bị buộc tội có quyền chứng minh là mình vô tội hoặc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; quá trình chứng minh phải được tiến hành công khai, minh bạch, đúng trình tự, thủ tục luật định; mọi nghi ngờ phải được loại bỏ khi kết tội một người; mọi sự không rõ ràng về căn cứ buộc tội và quy định của pháp luật phải được hiểu theo hướng có lợi cho người bị buộc tội!.
Trước yêu cầu bảo vệ quyền con người và xu thế hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ, nguyên tắc suy đoán vô tội đã được ghi nhận và áp dụng rộng rãi trong nền tư pháp của nhiều quốc gia văn minh, trong đó có Pháp và Việt Nam. Trong khoa học luật t6 tụng hình sự Pháp và Việt Nam có những quan điểm khác nhau về khái niệm nguyên tắc suy đoán vô tội. Theo giáo sư Aurélie Bergeaud-Wetterwald Trường Dai hoc Bordeaux, “Pháp luật Pháp quy định một cách day dui vé suy doan vô tội nhưng lại không đưa ra một định nghĩa xác định nào về suy đoán vô tội. Từ chối đưa ra định nghĩa, pháp luật Pháp còn không xác định một cách rõ ràng tat cả những hệ quả của nguyên tắc suy đoán v6 fội””.
Trong các tài liệu pháp lí cô điền, suy đoán vô tội thường được định nghĩa như “ôi nguyên tắc chung của luật tô tụng, theo đó chiến lược của vụ án hình sự được tổ chức ”°. Định nghĩa này làm cho suy đoán vô tội được hiểu như một hệ thống hơn là một nguyên tắc xác định, bởi vì tất cả thủ tục tố tụng đều xoay quanh sự suy đoán vô tội.