CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE XỬ LÝ HANH VI XÂM PHAM THÔNG TIN CÁ NHÂN 1. Khái niệm thông tin cá nhân Các hành vi xâm phạm TTCN đã và đang diễn ra với tần suất thường xuyên và mức độ tác động hết sức mạnh mẽ. Hiện nay, vấn đề này đang thu hút sự quan tâm, chú ý lớn của toàn xã hội cũng như các quốc gia trên thế giới. Một số tổ chức quốc tế và các quốc gia khác trên thế giới đã ban hành văn bản pháp luật riêng dé có thé điều chỉnh van dé này một cách hiệu quả.
Trước thực trạng đó, Việt Nam cũng đang trong tiễn trình nghiên cứu, xây dựng luật về bảo vệ TTCN dé ngăn ngừa, xóa bỏ những hành vi xâm phạm. Một trong những van dé rat quan trọng, còn tồn tại nhiều luồng ý kiến khác biệt chính là việc xác định, nam rõ khái niệm của TTCN. Về mặt ngôn ngữ, theo từ điển Tiếng Việt, danh từ “thong tin” được hiểu là “điều được truyền đi cho biết, tin truyền di”! , còn danh từ “cá nhân” là con người riêng lẻ, phân biệt với tập thé hoặc xã hội!5. Ngoài ra, trong Tiếng Anh, “théng tin” (information) là kiến thức, tri thức, là dit liệu, chi tiết về một hoặc nhiều đối tượng; “cá nhân” (personal) là liên quan, thuộc về một nguoi cu thé.
Từ đó, có thé hiéu một cách đơn giản và khái quát nhất, TTCN (personal information) là những điều, tin tức thuộc về một con người riêng lẻ, độc lập. Về góc độ pháp lý, bảo vệ TTCN đã và đang là một vấn đề hết sức cấp thiết, vì vậy, thuật ngữ TTCN được ghi nhận và ngày càng trở nên phổ biến trong khoa học pháp lý từ vài thập miên gần đây. Tuy nhiên, ở góc độ này, TTCN được tiếp cận trên quan điểm là một van đề gắn liền với quyền con người (human rights), cụ thé hon là quyền riêng tư (rights to privacy), song, quyền riêng tư luôn gắn liền với chủ thể quyền là cá nhân và cá nhân lại là chủ thể mà thông tin thuộc về. Chính vì vậy, khái nệm TTCN đã được thu hẹp hơn và có thê hiểu là những thông tin liên quan đến con người, cụ thê là sự riêng tư của cá nhân!”, Từ thế kỷ 19, khi trình độ khoa học và công nghệ phát triển thì TTCN đã trở thành một loại tài sản rất cần được bảo vệ, vì vậy, thuật ngữ TTCN mới hiện hữu, trở thành van đề quốc tế, được điều chỉnh bởi các văn bản pháp lý.
Ké từ đó, dé ban hành những quy định pháp luật xung quanh vấn đề này, mỗi hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia trên thé giới đều có những định nghĩa khác nhau về thuật ngữ này, tuy nhiên có một số định nghĩa được sử dụng khá phổ biến và thông dụng. Thuật ngữ TTCN (personally identifiable information — PII) được sử dụng phô biến ở các nước như Hoa Kỳ, Úc, Nhật Bản, Canada và một số nước Châu Á. Ở Hoa Kỳ, các văn bản pháp ly sử dụng thuật ngữ TTCN, có thể ké tới: Luật Bao vệ quyên về sự riêng tư trực tuyến của trẻ em (COPPA) - cung cấp cho phụ huynh quyền IS Từ điển Tiếng Việt, https:⁄/vtudien.com/viet-viet/dictionary/nghia-cua-tu-th%C3%B4ng%20tin, truy cập: 24/11/2021. '6 Hoàng Phê (2003), Từ điển Tiếng Việt, NXB Da Nang, tr.vn (2019), “Khái niệm thông tin cá nhân ”, https://ehealth.vn/2action=News&newsId=49547, truy cập: 25/11/2021.
9 kiểm soát đối với những thông tin mà các trang web có thé thu thập được từ con cái ho; Luật về Trách nhiệm giải trình và trách nhiệm bảo hiểm y tế (HIPPA) - đảm bảo tính bảo mật của bệnh nhân đối với tat cả các đữ liệu liên quan đến chăm sóc sức khỏe; Luật Bảo vệ quyền vé sự riêng tư video - ngăn chặn việc tiết lộ sai thông tin của một cá nhân xuất phát từ việc cho thuê hoặc mua tài liệu nghe nhìn của họ. Không chỉ thé, PII còn được định nghĩa trong một số văn ban hướng dan của các co quan Chính Phủ như: Hiệp hội Thương mại Liên Bang (The Federal Trade Commission — FTC), Ủy ban Truyền thông Liên Bang (The Federal Communications Commission — FCC), Viện Tiêu chuẩn và Công Nghệ Quốc Gia (The National Institute of Standards and Technology — NIST). Năm 2007, Chính phủ Hoa Kỳ đã quy định về thuật ngữ TTCN như sau: “7TCN la thông tin có thể được sử dụng dé phân biệt hoặc theo doi danh tính cua một ca nhân, chẳng hạn như tên, SỐ căn cước công dân, hô sơ sinh trắc học, v. Bên cạnh đó, TICN có thé liên kết với các dit liệu khác vi dụ như thông tin y té, giáo duc, tài chính va việc làm ”.13 Ở Nhat Bản, với Đạo luật về bảo vệ thông tin cá nhân (APPI), TTCN được định nghĩa là thông tin về một cá nhân sống thuộc bat kỳ mục nào sau đây: “(i) thông tin có chứa tên, ngày sinh hoặc các mô tả khác, theo đó một ca nhân cu thể có thé được xác định (bao gém thông tin cho phép dé dàng tham khảo cho phép nhận dang cá nhân); hoặc (ii) thông tin chứa mã nhận dang cá nhân, là mã, bao gồm các ký tự, ký tự số và dấu, có thể được sử dung dé xác định cá nhân cu thé và được quy định trong Nghị định của Chính phủ quy định về việc thực hiện Luật sửa đổi, bồ sung ban hành tháng 12 năm 2016.” Theo quy định của pháp luật Việt Nam, TTCN được hiểu là thông tin gắn với việc xác định danh tính của một người cụ thể (Điều 3 Luật An toàn thông tin mạng 2015).
Luật An toàn thông tin mạng 2015 không có giải thích cụ thể hơn về TTCN. Do vậy, việc xác định các thông tin gắn với việc xác định danh tính một người cụ thé là không dé dàng. Vì các thông tin đó có thé là thông tin trực tiếp giúp xác định danh tính như họ và tên, ngày sinh, số chứng minh nhân dân,. Nhưng cũng có những thông tin tuy không trực tiếp xác định danh tính nhưng nếu kết hợp với nhau, hoặc kết hợp với các thông tin khác lại có thể xác định danh tính một người cụ thé thì liệu có được coi là TTCN không? Vi dụ các thông tin về lịch trình đi lại, hoạt động, vi trí công việc, địa chỉ nơi làm việc, thông tin về tâm lý, thé chất, sinh trắc.
Nếu viện dẫn cách hiểu của Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/04/2007 của Chính phủ về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan Nhà nước, TTCN được hiểu là thông tin đủ dé xác định chính xác danh tính một cá nhân, bao gồm những thông tin sau đây: họ tên, ngày sinh, nghề nghiệp, chức danh, địa chỉ liên hệ, địa chỉ thư điện tử, số điện thoại, số chứng minh nhân dân, số hộ chiếu. Những thông tin thuộc bí mật cá nhân gồm có hồ sơ y tế, hồ sơ nộp thuế, số thẻ bảo hiểm xã hội, số thẻ tín dụng và những bí mật cá nhân khác. Về mặt nội dung, có thê thấy cách hiểu về TTCN trong Nghị định số 64/2007/NĐ-CP rõ ràng, l United States Department of Defense (2007), Memorandum for dod foia offices, https://www.mil/dpap/pdi/pc/docs/Withholding_Info_that_IDs_DoD_Personnel_- Sept _2005.pdf, truy cap: 25/11/2021. 10 cụ thể hơn so với cách hiểu được nêu trong Luật An toàn thông tin mạng.
Tuy nhiên, nếu xét về phạm vi áp dụng thì Nghị định số 64/2007/NĐ-CP chỉ áp dụng trong một số lĩnh vực chuyên ngành, trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Trong khi đó, Luật An toàn thông tin mạng lại áp dụng cho tat cả các chủ thê. !? Tại thời điểm hiện nay, do chưa có giải thích rõ ràng cách hiểu về TTCN được quy định trong Luật An toàn thông tin mạng, nên việc xác định thông tin được coi là TTCN còn khó khăn. Theo cách hiểu thông thường, chỉ những thông tin liên quan đến danh tinh của một người cụ thé, hoặc một người đã được xác định mới được coi là TTCN.
Vi dụ các thông tin về họ và tên, ngày/tháng/năm sinh, số chứng minh, địa chỉ nơi cư trú. sẽ được coi là TTCN. Bên cạnh thuật ngữ TTCN thì một số văn bản quy phạm pháp luật ở các quốc gia trên thế giới lại sử dụng một thuật ngữ khác là “Dữ liệu cá nhân”. Thuật ngữ được sử dụng phổ biến ở Châu Au, và một số nước ở Châu A như Singapore,.
Từ góc độ khoa hoc ki thuật nói chung dé nhìn nhận thì khái niệm “thông tin” và “dữ liệu” là 2 khái niệm khác nhau. Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau cho hai khái niệm này nhưng về cơ bản có sự thông nhất chung trong cách hiểu, đó là: Dữ liệu là tổ chức thấp hơn của thông tin, dữ liệu được tô chức, xử lý, biéu diễn, kết hợp lại dé tạo thành thông tin. Ví dụ: Số điện thoại bản thân nó không có giá trị thông tin gì, nó chỉ là con số (đữ liệu), nhưng nếu số điện thoại lại gắn kết với một người cụ thé có tên tudi, chức vu, nó sẽ cung cấp về thông tin của một con người cụ thể, lúc đó các con số này mới có giá trị (tính bí mật, tính riêng tư. Những văn bản đầu tiên đưa ra khái niệm “DLCN” và gan nó với bảo vệ quyền riêng tư là: Hướng dan bảo vệ quyên riêng tư và dịch chuyên DLCN giữa các quốc gia (1980) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và Hiệp ước bảo vệ DLCN liên quan đến xử lý tự động DLCN (1981) của Hội đồng Châu Âu (European Council).
Tuy nhiên, phô biến nhất phải kể đến thuật ngữ DLCN (personal data — PD), được sử dụng trong Quy định chung về bảo vệ dit liệu (GDPR) của Liên minh Châu Âu (EU), thuật ngữ này được định nghĩa cụ thé như sau: “Bat kỳ thông tin nào liên quan đến một con người tự nhiên có thể xác định hoặc nhận dạng được ”?!. Định nghĩa này mang tinh khái quát và phạm vi xác định rất rộng, bao gồm tất cả những gi liên quan có thé xác định hoặc nhận dạng được của chủ thể dữ liệu là một con người tự nhiên đang ton tại. Bên cạnh đó, theo Ủy ban châu Âu, DLCN là “bá: kỳ thông tin nào có liên quan nhằm xác định hoặc nhận dạng một cá nhân ”. Ngoài ra, những phần thông tin rời rac khác nhau nếu được thu thập có thể dẫn đến việc xác định một con nguoi cu thé cũng được coi là DLCN”.