CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ VỀ MÔ HÌNH CÁC TRƯỜNG ĐẲNG CẤP QUỐC TẾ 1.1 Hiện trạng hệ thống Giáo dục đại học Việt Nam hiện nay 1.1 Tổng quan về hệ thống giáo dục đại học Việt Nam Hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam đã mở rộng nhanh chóng, với tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong ngành Giáo dục. Bậc giáo dục tiểu học hiện nay đã được phổ cập, đưa Việt Nam lên vị thế rất thuận so với các quốc gia khác có mức thu nhập bình quân tương tự như Việt Nam. Dữ liệu từ cuộc Khảo sát mức sống Hộ gia đình chỉ ra rằng trong giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2006, tỉ lệ dân số ở độ tuổi từ 25-55 chưa hoàn thành bậc giáo dục tiểu học đã giảm từ 23% xuống còn dưới 1%. Tỉ lệ hoàn thành giáo dục tiểu học gia tăng từ 28% lên 34% trong tổng dân số, tỉ lệ hoàn thành giáo dục trung học cơ sở tăng từ 30% lên 34%, tỉ lệ hoàn thành giáo dục trung học phổ thông tăng từ 7% lên 12%.
Số sinh viên tiếp cận với giáo dục đại học ngày càng gia tăng, với khoảng 5% trong tổng dân số ở độ tuổi từ 25-55 có trình độ đại học vào năm 2006. Dân số từ Nông thôn và dân số có mức thu nhập thấp đang được hưởng lợi nhiều nhất từ việc gia tăng tỉ lệ người hoàn thành giáo dục bậc tiểu học và trung học cơ sở. Số lượng nhập học ở các trường Cao đẳng và Đại học đã gia tăng gần gấp đôi từ khoảng 900,000 sinh viên lên tới hơn 1.000 sinh viên vào năm 2008. Điều này được lý giải bởi: (i) tỉ lệ nhập học ban đầu thấp; (ii) nhu cầu về giáo dục đại học tăng cao do mức thu hồi cao từ kỹ năng có được thông qua đào tạo tại bậc học này và (iii) hành động của Chính phủ về việc mở rộng bậc giáo dục đại học.
Giáo dục đại học tư thục bắt đầu từ giữa những thập niên 1990. Việc phát triển giáo dục đại học tư thục đã đóng vai trò ngày càng quan tọng trong toàn bậc Học viên: Phạm Công Chính Trường Đại học Bách khoa Hà Nội giáo dục ĐH. Tính đến năm học 2010-2011, Việt Nam có 386 cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng trong đó 80 trường là trường tư thục. Bảng 1: Số liệu thống kê các cơ sở giáo dục đại học đến năm 2011: CAO ĐẲNG 2007-2008 2008-2009 2009-2010 2010-2011 TRƯỜNG/INSTITUTIONS 206 223 227 223 Công lập/Public 182 194 197 193 Ngoài công lập/Non-Public 24 29 30 30 Sinh viên/Students 422,937 476,721 576,878 726,219 Nữ/Female 214,686 244,200 305,905 386,265 Công lập/Public 377,531 409,884 471,113 581,829 Ngoài công lập/Non-Public 45,406 66,837 105,765 144,390 Hệ chính quy/Full time training 344,914 429,544 527,533 675,724 Hệ cử tuyển/Students receiving tied grant 1,323 662 794 1,060 Vừa làm vừa học/In service training 76,700 46,515 48,551 49,435 Học sinh tốt nghiệp/Graduated students 81,694 79,199 96,325 130,966 Giảng viên/Teaching Staff 17,903 20,183 24,597 23,622 Nữ/Female 8,796 10,071 11,970 12,051 Công lập/Public 16,340 17,888 20,125 19,933 Ngoài công lập/Non-Public 1,563 2,295 4,472 3,689 Phân theo trình độ chuyên môn/Professional qualification by classifying Tiến sĩ/PhD 243 338 656 586 Thạc sĩ/Master 4,854 5,785 6,859 7,509 ĐH, CĐ/University & College 12,468 13,689 16,242 14,939 Trình độ khác/Other degree 338 371 840 588 Học viên: Phạm Công Chính Trường Đại học Bách khoa Hà Nội ĐẠI HỌC TRƯỜNG/INSTITUTIONS 140 146 149 163 Công lập/Public 100 101 103 113 Ngoài công lập/Non-Public 40 45 46 50 Sinh viên/Students 1,180,547 1,242,778 1,358,861 1,435,887 Nữ/Female 571,523 602,676 659,828 693,175 Công lập/Public 1,037,115 1,091,426 1,185,253 1,246,356 Ngoài công lập/Non-Public 143,432 151,352 173,608 189,531 Hệ chính quy/Full time training 688,288 773,923 862,569 970,644 Hệ cử tuyển/Students receiving tied grant 5,765 5,562 7,189 7,448 Vừa làm vừa học/In service training 486,494 463,293 489,103 457,795 Học sinh tốt nghiệp/Graduated students 152,272 143,466 161,151 187,379 Giảng viên/Teaching Staff 38,217 41,007 45,961 50,951 Nữ/Female 16,459 18,185 20,849 23,306 Công lập/Public 34947 37,016 40,086 43,396 Ngoài công lập/Non-Public 3,270 3,991 5,875 7,555 Phân theo trình độ chuyên môn/Professional qualification by classifying Tiến sĩ/PhD 5,643 5,879 6,448 7,338 Thạc sĩ/Master 15,421 17,046 19,856 22,865 Chuyên khoa I và II/ Professional disciplines 314 298 413 434 ĐH, CĐ/University & College 16,654 17,610 19,090 20,059 Trình độ khác/Other degree 185 174 154 255 - Số trường đại học, cao đẳng không bao gồm các trường thuộc khối An ninh, Quốc phòng.
Số trường đại học đếm theo 02 Đại học Quốc gia Hà Nội, TP HCM và 3 Đại học vùng là Thái Nguyên, Huế, Đà Nẵng. Học viên: Phạm Công Chính Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Nguồn: MOET Từ các số liệu trên tác giả đã phân tích và đưa ra số liệu thống kê như sau: Bảng 2: Bảng thống kê tỷ lệ Sinh viên ở các hệ Stt Năm 2007-2008 2008-2009 2009-2010 2010-2011 1 Tổng số sinh viên 1.106 2 Tỷ lệ sinh viên cao đẳng trong tổng số ( %) 26.7 30 34 3 Tỷ lệ sinh viên đại học trong tổng số ( %) 73.3 70 66 Qua số liệu phân tích cho thấy tỷ lệ sinh viên Cao đẳng từ 26.4% của năm học 2007-2008 tăng lên 34% trong năm 2010-2011. Đồng thời tỷ lệ Sinh viên Đại học cũng giảm từ 73.6% trong năm học xuống còn 66% trong năm 2010- 2011. Như vậy đã thấy sự lựa chọn cấp độ đào tạo phù hợp của sinh viên đã chuyển biến rõ dệt.
Song song với nó là tỷ lệ giảng viên có trình độ đại học được giảm dần, giảng viên có trình độ sau đại học tăng dần qua các năm và được thể hiện cụ thể như bảng sau: Bảng 3: Tỷ lệ Sinh viên/Giảng viên và cơ cấu giảng viên ở các trình độ STT Năm 2007-2008 2008-2009 2009-2010 2010-2011 1 Tổng số sinh viên 1.106 2 Tổng số giảng viên 56.573 3 Tỷ lệ sinh viên/ giảng viên ( SV) 28.4 29 4 Tỷ lệ giảng viên trình độ Đại học (%) 52 51 50 47 Học viên: Phạm Công Chính Trường Đại học Bách khoa Hà Nội 5 Tỷ lệ giảng viên trình độ sau đại học (%) 47 48 49 52 6 Tỷ lệ giảng viên có trình độ khác ( %) 1 1 1 1 Về kinh phí, hiện tại Nhà nước vẫn là đơn vị cung cấp dịch vụ giáo dục đại học và cấp kinh phí chính cho toàn bậc. Tính trung bình, phân bổ hàng năm từ ngân sách Nhà nước cho các cơ sở giáo dục đại học chiếm từ 50-60% tổng ngân sách trong khi đó học phí từ sinh viên chiếm từ 30-35%. Tổng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo tăng dân qua các năm, năn 2008 là 74.017 nghìn tỷ đông, năm 2009 là 94.635 nghìn tỷ đồng và năm 2010 là 104.775 nghìn tỷ đồng. số liêu phân bổ được thống kê theo bảng dưới đây.
Bảng 4: Thống kê số liệu chi ngân sách nhà nước cho Giáo dục và đào tạo (Tỷ đồng/Bill VND) Năm 2008 2009 2010 Tổng số 74.775 Trung ương/Central 18.216 Địa phương/Local 55.559 Chi xây dựng cơ bản/Capital expenditure 12.275 Chia ra/Of which Trung ương/Central 5.416 Địa phương/Local 6.859 Chi thường xuyên cho giáo dục và đào tạo/Recurrent expenditure 61.500 Chia ra/Of which Học viên: Phạm Công Chính Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Trung ương/Central 13.800 Địa phương/Local 48.700 ơ Nguồn: MOET Như phân bổ trên ta thấy việc quản lý cấp tài chính cho GDĐH là tương đối phân đoạn. Trách nhiệm thực hiện ngân sách bậc GDĐH được chia sẻ giữa Bộ GD&ĐT, các Bộ chủ quản và các cơ quan chức năng địa phương. 60 cơ sở giáo dục ĐH công lập thuộc kiểm soát trực tiếp của Bộ GD&ĐT trong khi các cơ sở giáo dục đại học khác thuộc quyền kiểm soát của các bộ ngành khác (tuỳ theo lĩnh vực nghiên cứu hoặc đào tạo) hoặc của UBND tỉnh thành phố (trong trường hợp cơ sở đào tạo đại học có một trường đào tạo nghề địa phương). Ngân sách được lập theo quy trình từ dưới lên trong đó các trường thuộc kiểm soát của Bộ GD&ĐT sẽ nộp dự toán ngân sách hàng năm cho Bộ GD&ĐT để được phê duyệt và tổng hợp.
Các cơ sở giáo dục đại học khác nộp dự toán ngân sách hàng năm của mình cho Bộ chủ quản của trường hoặc cho UBND tỉnh thành phố. Điều này làm gia tăng tính không mạch lạc và không rõ ràng trong chính sách của bậc giáo dục đại học trong việc thiết lập chỉ tiêu tuyển sinh, phân bổ ngân sách và xác định mức độ học phí và học bổng. Về kinh phí dành cho phát triển giáo dục đại học: Đề án đổi mới GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 là một chương trình dài hạn của Bộ GDĐT, trong đó việc xây dựng kế hoạch kinh phí để thực hiện là nhiệm vụ quan trọng. Bộ GDĐT dự kiến nguồn kinh phí cần bổ sung là 20 tỉ USD trong giai đoạn 15 năm, với tỉ lệ lớn nhất là dành cho cơ sở hạ tầng và nhỏ nhất là dành cho phát triển các chương trình đào tạo, phát triển cán bộ và hỗ trợ tài chính sinh viên.
Chi Học viên: Phạm Công Chính Trường Đại học Bách khoa Hà Nội phí bổ sung của chương trình sẽ được kết hợp từ nguồn kinh phí nhà nước, kinh phí tư nhân và kinh phí từ nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Ngân sách nhà nước đầu tư cho GDĐH dự kiến sẽ gia tăng theo tỉ lệ ngân sách Nhà nước dành cho giáo dục, tăng tỉ lệ này lên 11% trong giai đoạn thực hiện dự án các trường Đại học đẳng cấp quốc tế ( ĐHSX). Tỷ lệ nguồn thu học phí ngày càng tăng trong giai đoạn 2008-2012 như bảng dưới đây. Đơn vị: tỉ VND Ngân sách/năm 2006 2008 2009 2010 2011 2012 Ngân sách NN 3.702 Tỷ lệ học phí trong tổng số (%) 34 32 36 40 42 45 Nguồn: MOET 1.2 Những hạn chế còn tồn tại: Mặc dù đã đạt được một số thành tựu cơ bản nhưng giáo dục Việt Nam vẫn còn những bất cập và yếu kém trước nhiều thách thức.
Cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân chưa đồng bộ, thiếu tính liên thông giữa các cấp học và các trình độ đào tạo, chưa đáp ứng được những đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhu cầu học tập của nhân dân và hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới. Những yếu kém bất cập trong cơ chế quản lý, cơ chế chính sách, cơ cấu ngành nghề, mạng lưới cơ sở giáo dục đại Học viên: Phạm Công Chính Trường Đại học Bách khoa Hà Nội học, quy trình đào tạo phương pháp dạy học, đội ngũ giảng viên còn hạn chế trung bình là 28 sinh viên/1 giảng viên, hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực và những tiêu cực trong thi cử, cấp bằng và một số hoạt động giáo dục khác cần được khắc phục.