CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ IP TV IP TV là một dịch vụ mới mẻ ở Việt Nam nhưng đã được triển khai rộng ở nhiều nước trên thế giới. Để có một cái nhìn khái quát về dịch vụ IP TV, trong chương này sẽ đề cập đến những định nghĩa chung, kiến trúc tổng quan cũng như là các đánh giá về ưu điểm, các ứng dụng của dịch vụ này. Lịch sử phát triển IP TV ( Internet Protocol Television ), hay còn gọi là Television over Internet, về cơ bản là sự kết hợp của các dịch vụ thoại, hình ảnh và dữ liệu.
IP TV không phải là một ý tưởng hoàn toàn mới mẻ, nhưng nó là kết quả sau sự phát triển của các dịch vụ truy nhập Internet tốc độ cao hoặc băng thông rộng. Trong thời gian đầu, do tốc độ truy cập Internet không đủ đáp ứng nên chất lượng thoại và hình ảnh không được tốt. Gần đây, tốc độ và băng thông Internet đã được cải thiện một cách đáng kể và IP TV trở nên chiếm ưu thế. Cũng như vậy, các Set Top Box thế hệ đầu có giá rất đắt, nhưng ngày nay với công nghệ phát triển, người ta đã có thể sản xuất ra các loại có giá thành hợp lý.
Sơ bộ về lịch sử phát triển của IP TV, vào năm 1994, chương trình World News Now của đài ABC là show truyền hình đầu tiên phát quảng bá qua mạng Internet, sử dụng phần mềm CU-SeeMe. Công ty Internet Radio AudioNet đã phát chương trình trực tiếp đầu tiên của WFAA-TV trên mạng vào tháng 1 năm 1998 và KCTU-LP vào 10 tháng 1 năm 1998. Trong thời gian tới, các hộ gia đình sử dụng IP TV đều mong muốn dịch vụ này phát triển nhanh, tương tự như sự phát triển của mạng Internet băng rộng, hiện đang cung cấp cho hơn 100 triệu hộ dân trên toàn thế giới. Nhiều nhà cung cấp viễn thông lớn trên thế giới đang thử nghiệm dịch vụ IP TV và xem đó là một cơ hội thu lợi mới trên thị trường vốn có của họ, và là một biện pháp cạnh tranh với sự chiếm lĩnh thị trường của các dịch vụ truyền hình cáp.
Định nghĩa về IP TV IP TV là viết tắt của Internet Protocol Television, là một hệ thống phân phối các chương trình truyền hình kỹ thuật số đến khách hàng là những thuê bao, qua hạ tầng mạng sử dụng giao thức IP có kết nối băng rộng. Thông thường, dịch vụ này được cung cấp cùng với dịch vụ Video on Demand. Ngoài ra, người dùng còn có thể truy nhập Web và sử dụng Voice over IP. Khi đó, IP TV được gọi là dịch vụ “Triple Play”, vì người dùng vừa có thể xem truyền hình, truy nhập Web và đồng thời gọi điện thoại qua Internet.
Tuy nhiên, không thể nhầm lẫn giữa IP TV và Internet Television, là dịch vụ truyền hình quảng bá qua mạng Internet công cộng. Bản thân IP TV cũng không phải là duy nhất. Nó gần giống như hệ thống truyền hình độc quyền, tương tự với dịch vụ truyền hình cáp hiện nay. Vai trò của IP TV là kết hợp nhiều dịch vụ để nghiên cứu và tìm ra thị hiếu của khách hàng.
Vậy nên, cần phải xây dựng một hạ tầng mạng hoàn chỉnh cho các dịch vụ thương mại điện tử và quảng cáo đến nhiều đối tượng hơn. Hiện nay, IP TV đã trở thành một mẫu thức phổ biến cho các hệ thống truyền cả tín hiệu truyền hình và video tới các thuê bao và người xem. Hơn thế nữa, nên nhớ rằng IP TV khác biệt so với “Internet Video”, vì Internet Video cung cấp dịch vụ xem video. Dịch vụ này còn được gọi là “best effort” vì nó không có sự quản lí về mặt chất lượng dịch vụ.
Ngược lại với Internet Video, công nghệ IP TV tiên tiến hơn, gần gũi với người dùng hơn và kết hợp chặt chẽ hơn nhờ các kỹ thuật đường dây thuê bao số tốc độ cao hơn (xDSL), ví dụ như đường dây thuê bao số không đối xứng ADSL2, ADSL2+ và đường dây thuê bao số không đối xứng tốc độ rất cao (VDSL). Điều này chắc chắn sẽ giúp cho các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông thu lợi lớn. Bởi vậy, nhiều nhà cung cấp dịch vụ đã tham gia và cạnh tranh có hiệu quả vào thị trường được gọi là “triple play” này. Tóm lại, IPTV, dịch vụ cung cấp thoại, hình ảnh và dữ ~ 16 ~ liệu cho khách hàng là các hộ gia đình và các công ty kinh doanh đang phát triển rất nhanh và có hiệu quả cao.
Kiến trúc của IP TV Các công ty điện thoại gần như là các nhà cung cấp dịch vụ IP TV đầu tiên. Vào giai đoạn sau, dịch vụ này sẽ được mở rộng sang các hãng truyền hình. Chi phí lắp đặt IP TV không cao, đối với người vận hành và cả người sử dụng thì IP TV đều rất dễ tiếp cận. Vì dịch vụ này truyền qua mạng IP và truyền đi ít thông tin hơn so với mạng truyền hình tương tự hay kỹ thuật số “truyền thống” nên chi phí xây dựng hệ thống thấp hơn và phí tiêu dùng cũng thấp hơn.
Người ta có thể sử dụng một Set Top Box để truyền tín hiệu Video qua kết nối Internet băng rộng DSL, khi đó tín hiệu tới các hộ gia đình tốt hơn so với khi truyền qua cáp đồng trục. Bên cạnh đó, người dùng có thể ghi lại nhiều chương trình cùng một lúc nhờ đầu ghi Video số (DVR- Digital Video Recoder). Sơ đồ khối kiến trúc hệ thống IPTV. Kiến trúc của hệ thống IP TV bao gồm những thành phần sau: Content Sources: là thành phần có chức năng nhận nội dung Video từ nhà sản xuất hay các nguồn khác, sau đó tín hiệu được mã hóa và lưu lại trong một cơ sở dữ liệu để phục vụ cho Video on Demand.
~ 17 ~ Service Nodes: là thành phần có chức năng nhận tín hiệu video truyền đến theo nhiều dạng khác nhau. Sau đó nó định dạng lại tín hiệu và đóng gói, tiếp tục truyền tín hiệu Video đến mạng diện rộng với chất lượng dịch vụ phù hợp. Để quản lí chất lượng dịch vụ, Service Nodes sẽ thông tin với thiết bị của khách hàng (CPE- Customer Premise Equipment), để quản lí thuê bao, phiên làm việc và tín hiệu số, Service node sẽ thông tin với IPTV Service. Wide Area Ditribution Network: mạng này có khả năng và dung lượng cần thiết để phân phối dữ liệu và đảm bảo chất lượng dịch vụ.
Nó cũng bao gồm các khả năng khác như là multicast, phục vụ cho việc truyền các dòng dữ liệu IPTV một cách tin cậy theo thời gian thực từ Service Nodes tới khách hàng. Ngoài ra, mạng lõi và mạng truy nhập còn bao gồm mạng backbone cáp quang và nhiều bộ ghép kênh truy nhập đường dây thuê bao số (DSLAMs). Nó được đặt tại văn phòng trung tâm hoặc các điểm phân phối từ xa. Customer Access Links: tại đây cần phải có công nghệ DSL tốc độ cao như ADSL2+ và VDSL; nhờ đó, tín hiệu có thể được truyền đến nhà khách hàng qua thiết bị sẵn có và qua đường dây điện thoại.
Nhà cung cấp dịch vụ có thể kết hợp công nghệ FTTC (fiber to the curb) và DSL để phát dịch vụ tới khách hàng, họ cũng có thể lắp đặt đường cáp quang trực tiếp tới nhà khách hàng (FTTH). Tuy nhiên, kết quả tốt hay không còn phụ thuộc vào sự phong phú của các dịch vụ IPTV mà họ cung cấp. Customer Premises Equipment (CPE): Trong hệ thống IPTV, thiết bị CPE được đặt tại nhà khách hàng. Nó là phần tử đầu cuối mạng băng rộng (B-NT).
Ít nhất, nó có thể bao gồm các chức năng tích hợp khác nhau như gateway định tuyến, set top box hay một thiết bị mạng trong nhà. IPTV client: là đơn vị kết cuối dịch vụ IPTV tại nhà khách hàng. Nó chỉ là một thiết bị đơn thuần , có thể là một set top box, thực hiện chức năng xử lý. Chức năng này bao gồm thiết lập kết nối và quản lí chất lượng dịch vụ với service ~ 18 ~ node, giải mã dòng tín hiệu Video, chức năng chuyển kênh, điều khiển màn hình và kết nối các ứng dụng người dùng, ví dụ như truyền hình có độ phân giải tiêu chuẩn (SDTV) hay truyền hình có độ phân giải cao (HDTV).
Tóm lại, nội dung video (có thể là các băng hay đĩa ghi chương trình hay tín hiệu truyền hình trực tiếp qua vệ tinh), sẽ được mã hóa theo chuẩn mã hóa video tại Content Sources, sau đó, tùy theo loại hình dịch vụ là VoD hay broadcast mà dòng tín hiệu được đóng gói tại Service Nodes truyền đến mạng phân phối, rồi qua kết nối băng rộng đến khách hàng.Tại nhà khách hàng, thiết bị kết cuối của mạng sẽ giải mã và phát tín hiệu trên màn hình TV hay máy PC của người xem. Tất cả các hoạt động đó được quản lí và vận hành nhờ khối kiến trúc Service Management & Operation. Vậy, điều gì là khác biệt giữa IPTV và Internet Television. IPTV là dịch vụ gần giống với hệ thống truyền hình độc quyền, tương tự như các nhà cung cấp dịch vụ truyền hình cáp ngày nay.
Nhưng, IPTV khác ở chỗ là nó phát đi các kênh được bảo mật qua mạng IP. Kết quả là hệ thống IPTV có thể điều khiển kiểm soát các nội dung được phát đi dễ dàng hơn. Internet Television là một cơ cấu mở, trong đó có một số lượng lớn các nhà phân phối video trung bình và nhỏ tham gia vào, giống như một nhà cung cấp dịch vụ luôn đổi mới nội dung. Nói một cách dễ hiểu thì IP TV có nghĩa rộng hơn Internet TV, vì nó ứng dụng trong tất cả các mạng sử dụng giao thức IP.
Ưu điểm của IPTV Như đã nói ở trên, hệ thống IPTV giúp nhà cung cấp dịch vụ bảo tồn băng thông. Nhưng ngoài ra nó còn rất nhiều ưu điểm khác như sau: • Trong IPTV, một khả năng mới tương tác giữa Internet, thoại, và video có thể được thiết lập. Điều này cho ra đời nhiều loại hình dịch vụ mới mà trước đây không phù hợp trong mạng gói. Ví dụ, trong mạng truyền hình cáp truyền thống, video được truyền đi theo các dòng MPEG trên một ~ 19 ~ phần băng thông xác định.
Mặt khác, các dịch vụ dữ liệu tốc độ cao như là dịch vụ Internet qua cáp và modem được phân phối qua mạng trên nền IP. Nó tách biệt với mạng Truyền hình quảng bá truyền dẫn MPEG. Ngày nay, cả hai dịch vụ đều được phân phối qua một mạng IP. • Một ưu điểm rất dễ nhận thấy khác của IPTV là phục vụ nhiều kênh đến người xem.
Trong mạng tivi truyền thống thì sự lựa chọn rất nghèo nàn. • IPTV có thể rất hữu dụng trong việc cung cấp các khóa đào tạo trên web.