CHƯƠNG 1 – KHÁI QUÁT VỀ CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐA PHƯƠNG TIỆN – CƠ SỞ DỮ LIỆU ẢNH 1.1 Dữ liệu đa phương tiện Dữ liệu đa phương tiện ngày nay trở lên rất phổ biến, chúng được chia thành hai lớp là các dữ liệu liên tục và các dữ liệu không liên tục. Các dữ liệu liên tục bao gồm các dữ liệu âm thanh, video đây là các dạng dữ liệu thay đổi theo thời gian. Các dữ liệu không liên tục là các dữ liệu không phục thuộc vào thời gian, các loại dữ liệu đặc trưng cho dạng này là các dữ liệu văn bản (có hoặc không có định dạng), hình ảnh tĩnh và các đối tượng đồ họa. Như vậy các kiểu dữ liệu thông thường của một CSDL đa phương tiện bao gồm: - Dữ liệu văn bản (có hoặc không có định dạng), - Đồ họa: là các bản vẽ, minh họa được mã hóa như các tệp postscript, - Hình ảnh: là các hình ảnh được mã hóa sử dụng các dạng thức chuẩn như là JPEG, MPEG…, - Các hoạt hình, - Âm thanh, - Video.
Các loại dữ liệu đa phương tiện có thể khác nhau về định dạng, hình thức lưu trữ, dung lượng, cấu trúc,…Tuy nhiên chúng đều có các đặc tính chung như sau: - Thiếu cấu trúc: Các dữ liệu đa phương tiện có khuynh hướng phi cấu trúc, vì vậy các tác nghiệp quản trị dữ liệu chuẩn như chỉ số hoá, tìm kiếm nội dung, truy vấn dữ liệu thường không áp dụng được. 7 - Tính tạm thời: Một vài kiểu dữ liệu đa phương tiện như là Video, âm thanh và hoạt hình đều phụ thuộc vào yếu tố thời gian và là yếu tố liên quan mật thiết đến việc lưu trữ, thao tác và mô tả chúng. - Có dung lượng lớn: các dữ liệu video và âm thanh thường đòi hỏi các thiết bị lưu trữ lớn. - Các ứng dụng hỗ trợ: các dữ liệu phi chuẩn có thể đòi hỏi các quy trình xử lý phức tạp như việc sử dụng các thuật toán nén dữ liệu đối với các ứng dụng CSDL đa phương tiện.2 Cơ sở dữ liệu đa phương tiện 1.
Khái niệm cơ bản Cơ sở dữ liệu đa phương tiện là một loại cơ sở dữ liệu giống như các cơ sở dữ liệu khác nhưng trong đó chứa các tập hợp dữ liệu đa phương tiện. Đa phương tiện được định nghĩa là sự kết hợp của nhiều hơn một phương tiện truyền thông. Thông thường có hai dạng cơ sở dữ liệu đa phương tiện: cơ sở dữ liệu đa phương tiện liên kết và cơ sở dữ liệu đa phương tiên nhúng. Cơ sở dữ liệu đa phương tiện liên kết : Cơ sở dữ liệu đa phương tiện có thể được tổ chức như cơ sở dữ liệu của các siêu dữ liệu (metadata).
Các siêu dữ liệu này liên kết tới dữ liệu thực như: đồ họa, hình ảnh, hoạt hình, âm thanh, … Các dữ liệu này có thể được lưu trữ trên các thiết bị lưu trữ khác nhau như: ổ cứng, CD-ROM, DVD hoặc được lưu trữ trực tuyến (online). Trong cơ sở dữ liệu này các phần tử đa phương tiện được tổ chức là hình ảnh, âm thanh, hoặc video … 8 Trong hệ thống cơ sở dữ liệu này các dữ liệu được lưu trữ hoặc là off-line chẳng hạn như: ổ cứng, CD-ROM, DVD, … hoặc trực tuyến. Một ưu điểm chính của loại cơ sở dữ liệu này là kích thước cơ sở dữ liệu sẽ giảm đi rất nhiều bởi vì các thành phần đa phương tiện (thường có dung lượng rất lớn) không được nhúng trực tiếp vào cơ sở dữ liệu mà cơ sở dữ liệu chỉ lưu trữ các liên kết tới chúng. Online Cơ sở dữ liệu đa Dữ liệu đa phương tiện phương tiện CD-Rom, DVD, hoặc ổ cứng Hình 1.1 – Cơ sở dữ liệu đa phương tiện liên kết 9 Cơ sở dữ liệu đa phương tiện nhúng: đây là dạng cơ sở dữ liệu mà các đối tượng dữ liệu đa phương tiện được nhúng trực tiếp vào cơ sở dữ liệu dưới dạng nhị phân.
Lợi ích chính của loại cơ sở dữ liệu này là việc lấy dữ liệu sẽ nhanh hơn vì giảm được thời gian truy cập vào dữ liệu trên các phương tiện bên ngoài. Tuy nhiên một nhược điểm rất lớn của nó là kích thước của cơ sở dữ liệu sẽ rất lớn. Tùy thuộc vào mục đích sử dụng, kích thước của dữ liệu đa phương tiện và khả năng của hệ thống máy chủ mà người ta lựa chọn việc sử dụng cơ sở dữ liệu nào cho thích hợp. Chẳng hạn đối với cơ sở dữ liệu ảnh thì có thể chọn cách tổ chức cơ sở dữ liệu theo kiểu nhúng vì kích thước ảnh thông thường không quá lớn.
Nhưng đối với cơ sở dữ liệu Video thì thường tổ chức cơ sở dữ liệu theo kiểu cơ sở dữ liệu liên kết vì kích thước của một tệp tin video có thể lên tới hàng ghi hoặc lớn hơn nữa. Hệ quản trị cơ sở dữ liệu đa phương tiện là một hệ nền (framework) cho phép quản lý các kiểu dữ liệu khác nhau, được biểu diễn trong các định dạng khác nhau trên nhiều nguồn phương tiện khác nhau. Thông thường một hệ quản trị cơ sở dữ liệu đa phương tiện phải có các tính chất sau: - Có khả năng truy vấn dữ liệu một cách đồng nhất (dữ liệu dạng media, dữ liệu dạng văn bản) cho các dữ liệu được biểu diễn trong các dạng khác nhau. - Có khả năng truy vấn đồng thời các nguồn phương tiện( media) khác nhau , thực hiện các phép toán của cơ sở dữ liệu cổ điển trên dữ liệu đa phương tiện.
- Có khả năng nhận các dữ liệu media từ một thiết bị lưu trữ cục bộ. 10 - Có khả năng nhận một kết quả trả ra từ một truy vấn và thuyết minh câu trả lời dưới dạng phương tiện âm thanh-hình ảnh. - Có khả năng phân phối các biểu diễn này trong một cách nào đó để thỏa mãn các yêu cầu về chất lượng dịch vụ. Cấu trúc của cơ sở dữ liệu đa phương tiện Cấu trúc của cơ sở dữ liệu đa phương tiện bao gồm các thành phần chính sau đây: - Phân tích dữ liệu, - Mô hình hóa dữ liệu, - Lưu trữ dữ liệu, - Truy tìm dữ liệu, - Ngôn ngữ truy vấn, - Truyền thông đa phương tiện.
Phân tích dữ liệu: Trong phân tích dữ liệu có hai vấn đề quan trọng thường được quan tâm đó là cách thức để cấu trúc dữ liệu và cách thức để truy cập dữ liệu. Dữ liệu được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu dưới dạng hoặc là không được định dạng (không có cấu trúc), hoặc là được định dạng (có cấu trúc). Dữ liệu không cấu trúc được biểu diễn trong một đơn vị nơi mà nội dung không thể được truy tìm bằng việc truy cập đến bất kỳ một chi tiết có tính cấu trúc nào. Dữ liệu cấu trúc được lưu trữ trong các biến, các trường, các thuộc tính với các giá trị tương ứng.
Dữ liệu đa phương tiện có thể được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu dưới dạng thô , hoặc dưới dạng các kiểu dữ liệu đăng ký và mô tả. Các kiểu dữ liệu thô được biểu diễn dưới dạng các pixel hoặc các bit. 11 Mô hình hóa dữ liệu: mô hình hóa dữ liệu tập trung vào thiết kế khái niệm của cơ sở dữ liệu đa phương tiện để thực hiện các hoạt động như: lựa chọn, trèn, truy vấn, … các đối tượng media. Các đa phương tiện dựa trên thời gian như video, âm thanh, hoạt hình bao gồm các khái niệm về luồng dữ liệu, thời gian, sự đồng bộ và cấu thành thời gian.
Các khái niệm khác nhiều so với các dữ liệu thông thường như luồng dữ liệu văn bản. Một trong những bài toán quan trọng nhất của hệ thống cơ sở dữ liệu đa phương tiện là mô tả cấu trúc về thời gian ràng buộc phương tiện để truy vấn, cập nhật, trích rút và biểu diễn. Lưu trữ dữ liệu: các đối tượng dữ liệu đa phương tiện được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu. Đây là các kiểu phương tiện không liên tục chẳng hạn như các phương tiện tĩnh như văn bản, hay hình ảnh; và các phương tiện liên tục như các phương tiện động.
Các dữ liệu phương tiện động có tính chất thời gian thực trong khi các dữ liệu phương tiện tĩnh thì không. Do đó cơ chế lưu trữ dữ liệu sẽ khác nhau đối với từng kiểu dữ liệu khác nhau. Hầu hết các dữ liệu phương tiện liên tục được lưu trữ trên máy chủ lưu trữ riêng biệt để phù hợp với các yêu cầu ràng buộc thời gian thực. Các dữ liệu không liên tục được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu là các thông tin về tệp tin của dữ liệu, còn dữ liệu thông thường được lưu trữ trong các thiết bị lưu trữ chẳng hạn như ổ cứng, CD-ROM, DVD hoặc được lưu trữ online.
Truy tìm dữ liệu: mục tiêu cuối cùng của bất cứ một cơ sở dữ liệu đa phương tiện nào là cách thức để truy cập thông tin đa phương tiện một cách hiệu quả. Với khía cạnh truy cập, các đối tượng đa phương tiện được phân thành 2 loại – các đối tượng chủ động và các đối tượng bị động. Các đối tượng không tham gia vào quá trình phục hồi thông tin gọi là các đối tượng bị động. Thực tế 12 trong môi trường cơ sở dữ liệu đa phương tiện, tất cả các đối tượng nên là đối tượng chủ động.
Ngôn ngữ truy vấn: Ngôn ngữ truy vấn được cung cấp để hoàn thành mục đích truy tìm dữ liệu đa phương tiện trong cơ sở dữ liệu đa phương tiện. Trong một quy trình của hệ thống quản trị cơ sở dữ liệu, các truy vấn người dùng được xử lý bằng việc định nghĩa ngôn ngữ truy vấn như một phần của hệ quản trị cơ sở dữ liệu, nó là một phần không thể tách rời của hệ quản trị cơ sở dữ liệu. Một ngôn ngữ truy vấn đa phương tiện phải có khả năng xử lý các mối quan hệ phức tạp, hay các mối quan hệ không gian và thời gian. Một ngôn ngữ truy vấn mạnh phải giải quyết được với từ khóa, chỉ mục đối với từ khóa và nội dung của các đối tượng đa phương tiện.
Các cơ sở dữ liệu truyền thống đã giải quyết rất tốt các yêu cầu này. Thông thường có hai kiểu truy vấn được sử dụng trong các cơ sở dữ liệu đó là truy vấn xác định(truy vấn rõ - well defined) và truy vấn mờ(fuzzy query). Trong truy vấn xác định, người dùng phải biết được những gì họ muốn tìm kiếm. Một kiểu truy vấn thứ hai gọi là truy vấn mờ, trong kiểu truy vấn này tính chất của các đối tượng truy vấn là nhập nhằng.