Chương 1: Tổng quan về vật liệu cấp phối đá dăm 1.Lựa chọn, nguyên lý sử dụng vật liệu xây dựng mặt đường 1.Lựa chọn vật liệu Chọn vật liệu thích hợp với trạng thái chịu lực và trạng thái thủy nhiệt của mỗi tầng lớp mặt đường. Giải quyết vấn đề này cần phải chú ý đến các chỉ tiêu kỹ thuật – kinh tế của mỗi loại hỗn hợp vật liệu định sử dụng. Vì mỗi tầng lớp kết cấu mặt đường thường được cấu tạo bằng một hỗn hợp vật liệu 3 pha nên cần nghiên cứu xác định được các yêu cầu cụ thể đối với mỗi thành phần vật liệu tham gia trong đó sao cho chúng có thể phối hợp tốt, tạo nên và hình thành một cấu trúc có cường độ cao đáp ứng yêu cầu. Cấu trúc của vật liệu cấu tạo nên các tầng lớp mặt đường thường có các hình thức chủ yếu sau: - Cấu trúc keo tụ (còn gọi là cấu trúc đông tụ hoặc ngưng tụ): khi các hạt cứng được bao bọc bằng các màng mỏng chất lỏng (như các hạt đất có các màng nước bao bọc, các hạt khoáng chất có nhựa bao bọc).
Cường độ của một lớp có cấu trúc keo tụ phụ thuộc chủ yếu vào thành phần, loại màng chất lỏng, số lượng và chất lượng của nó, đồng thời cũng phụ thuộc vào cường độ của các hạt cứng cũng như sự tiếp xúc bề mặt giữa các hạt. - Cấu trúc kết tinh: khi các hạt cứng được bao bọc bằng các màng chất liên kết biến cứng (như bê tông xi măng). Cường độ của loại kết cấu này cũng phụ thuộc số lượng, chất lượng chất liên kết, cường độ vật liệu khoáng chất và diện tích tiếp xúc giữa các hạt. - Cấu trúc tiếp xúc: các hạt cứng tiếp xúc trực tiếp không có các màng ngăn cách (như lớp cát, cuội sỏi, đá dăm).
Cường độ của loại cấu trúc này phụ thuộc vào tác dụng giữa các lực phân tử ở bề mặt tiếp xúc của các hạt và cũng phụ thuộc diện tích tiếp xúc giữa các hạt ma sát. Trang 15 Chương 1: Tổng quan về vật liệu cấp phối đá dăm 1.Nguyên lý sử dụng vật liệu Hỗn hợp vật liệu để tạo nên các lớp trong kết cấu mặt đường thường gồm 2 loại: cốt liệu và các chất liên kết. Cốt liệu thường là các hạt mịn, đất, cát, sỏi sạn, đá dăm, cấp phối, xỉ, phế liệu công nghiệp. Bất cứ tầng, lớp nào trong kết cấu mặt đường mềm hoặc cứng cũng đều phải dùng một trong các loại đó có tác dụng làm bộ khung của lớp kết cấu.
Chất liên kết thường được trộn hoặc tưới vào cốt liệu với một tỷ lệ nhất định để dính kết các hạt cốt liệu nhằm tăng cường độ và tính chống thấm nước của hỗn hợp. Các chất liên kết gồm có: các chất liên kết rắn trong nước và puzôlan (như xi măng các loại, vôi tro bay, vôi puzôlan), các chất liên kết hữu cơ hoặc chất liên kết hyđrôcácbon (như nhựa bitum, gruđon, nhũ tương của bitum hoặc gruđon) và vôi. Ngoài ra với mặt đường quá độ còn dùng đất dính làm chất liên kết, tuy nhiên đất dính kém ổn định với nước, vì vậy chỉ thích hợp để làm lớp móng của các kết cấu mặt đường có lớp mặt hoàn chỉnh. Tùy theo yêu cầu cũng như điều kiện làm việc của mỗi tầng, lớp có thể có những tầng, lớp không cần vật liệu liên kết.
Vật liệu liên kết gồm có 3 loại: vật liệu liên kết thiên nhiên (như đất sét dính), vật liệu liên kết vô cơ (như xi măng, vôi ), vật liệu liên kết hữu cơ (như nhựa, các chất hóa học). Ngoài cốt liệu và vật liệu liên kết, nhiều khi người ta còn dùng thêm các chất phụ gia vô cơ hoặc hữu cơ. Mục đích chính của việc dùng các chất phụ gia thường là để cải tạo điều kiện tiếp xúc và bao bọc nhằm giúp cho tác dụng của vật liệu liên kết đối với cốt liệu được tốt hơn, nhờ đó tăng được cường độ của vật liệu hoặc tạo điều kiện cho việc thi công dễ dàng hay nhằm tăng cường một tính chất nào đó của hỗn hợp vật liệu. Khi đã có các loại vật liệu thì vấn đề đặt ra là phải sử dụng các loại vật liệu kể trên như thế nào, cụ thể phải quyết định yêu cầu đối với mỗi thành phần vật liệu, tỷ lệ phối hợp giữa các thành phần ra sao để tạo nên một hỗn hợp vật liệu mà sau khi hoàn thành các khâu thi công cần thiết có thể đạt được một cấu trúc có cường độ Trang 16 Chương 1: Tổng quan về vật liệu cấp phối đá dăm và độ ổn định về cường độ nhất định, đáp ứng được các yêu cầu phù hợp với chức năng của mỗi tầng xây dựng mặt đường.
Mỗi phương pháp xây dựng mặt đường phải dựa trên một nguyên lý sử dụng, lớp mặt đường. Mỗi nguyên lý sử dụng vật liệu khác nhau sẽ quyết định yêu cầu đối với mỗi thành phần vật liệu về số lượng và chất lượng đồng thời cũng quyết định các biện pháp và kỹ thuật thi công cần thiết. Ngược lại nếu có sẵn những thứ vật liệu nào đó thì nên theo một nguyên lý cấu tạo tương ứng, như vậy mới đảm bảo có thể tạo nên được một tầng lớp có lợi nhất về cường độ và độ ổn định cường độ. Việc sử dụng vật liệu để xây dựng mặt đường đến hiện nay đều dựa vào một trong các nguyên lý sử dụng vật liệu sau: Nguyên lý lát, xếp; nguyên lý đá chèn đá; nguyên lý gia cố đất và nguyên lý cấp phối.Các loại mặt đường sử dụng ở Bình Thuận Sau khi tái lập tỉnh năm 1992, hệ thống các tuyến đường chủ yếu là cấp phối sỏi đỏ, chỉ một số ít được láng nhựa với mặt đường đá dăm macadam và đá dăm kết sỏi đỏ.
Hiện nay, các loại mặt đường truyền thống cũ như cấp phối thiên nhiên (cấp phối sỏi đỏ, cấp phối sỏi sạn), đá dăm macadam, đá dăm đất kết dính, dần thay thế bằng vật liệu cấp phối đá dăm.Vật liệu cấp phối đá dăm 1.Khái niệm Cấp phối đá dăm (CPĐD) là một hỗn hợp cốt liệu, sản phẩm của một dây chuyền công nghệ nghiền đá (sỏi), có cấu trúc thành phần hạt theo nguyên lý cấp phối phối chặt liên tục. Là loại vật liệu thích hợp và được sử dụng nhiều trong xây dựng móng đường ô tô. Năm 1993, theo chỉ đạo của Bộ Giao thông vận tải, Transmeco đã tổ chức nghiên cứu và sản xuất CPĐD theo tiêu chuẩn AASHTO thay cho công nghệ sử dụng đá hộc làm móng đường. Trang 17 Chương 1: Tổng quan về vật liệu cấp phối đá dăm Sản phẩm CPĐD được sử dụng thí điểm thi công công trình đường cao tốc Bắc Thăng Long - Nội Bài (dài 28km), sau đó tiếp tục được đưa vào sử dụng chính thức để xây dựng Quốc lộ 5 và các Quốc lộ ở Việt Nam.
Thi công bằng CPĐD làm cho chất lượng móng đường tốt hơn, cơ giới hóa xây dựng và vì vậy đẩy nhanh tiến độ thi công. Cho đến nay, hầu hết công trình đường quốc lộ, tỉnh lộ đã được bộ giao thông vận tải áp dụng tiêu chuẩn này để thiết kế và thi công.Cỡ hạt lớn nhất danh định Là cỡ hạt có đường kính lớn nhất quy ước của một loại CPĐD, ký hiệu là Dmax. Cỡ hạt danh định này nhỏ hơn so với đường kính của cỡ hạt lớn nhất tuyệt đối và tỷ lệ hàm lượng lọt qua sàng ứng với cỡ hạt danh định của một loại CPĐD thường chiếm từ 75-95%.Phân loại CPĐD dùng làm móng đường được chia làm hai loại: CPĐD loại I và loại II. - CPĐD loại I: là cấp phối cốt liệu khoáng mà tất cả các cỡ hạt được nghiền từ đá nguyên khai.
- CPĐD loại II: là cấp phối cốt liệu khoáng được nghiền từ đá nguyên khai hoặc sỏi cuội, trong đó cỡ hạt nhỏ hơn 2,36 mm có thể là khoáng vật tự nhiên không nghiền nhưng khối lượng không vượt quá 50% khối lượng CPĐD. Khi CPĐD được nghiền từ sỏi cuội thì các hạt trên sàng 9,5 mm ít nhất 75% số hạt có từ hai mặt vỡ trở lên. Nguyên lý cấp phối và ưu nhược điểm 1. Nguyên lý cấp phối CPĐD sử dụng theo nguyên lý cấp phối, theo nguyên lý này cốt liệu sẽ gồm nhiều cỡ hạt to nhỏ liên tục khác nhau, phối hợp với nhau theo một tỷ lệ nhất định và sau khi lu lèn sẽ đạt được một độ chặt nhất định.
Độ chặt của hỗn hợp vật liệu Trang 18 Chương 1: Tổng quan về vật liệu cấp phối đá dăm sau khi lu lèn càng lớn thì cường độ của lớp vật liệu càng cao. Ngoài ra để tăng thêm cường độ còn trộn thêm các chất liên kết vô cơ hoặc hữu cơ và khi đó sẽ được các lớp mặt đường có cường độ cao như mặt đường bê tông xi măng, mặt đường bê tông nhựa.Ưu nhược điểm Ưu điểm - Cường độ tương đối cao (2000 - 3000) daN/cm2. - Ổn định với lực đẩy ngang, đá ít bị bong bật hơn so với mặt đường đá dăm nước rất nhiều. - Tính thấm nước và thấm hơi nhỏ.
- Đỡ tốn công lu lèn hơn mặt đường đá dăm nước. Nhưng khi lu lèn phải rất chú ý lu cấp phối ở độ ẩm tốt nhất. - Nguồn cung cấp đầy đủ và dồi dào. - Có thể cơ giới hóa được hầu hết các khâu thi công do đó thuận lợi cho các công tác tổ chức thi công và quản lý, kiểm tra chất lượng thi công.
- Sử dụng làm được cả lớp móng dưới và móng trên trong tất cả các loại kết cấu áo đường. Nhược điểm - Kém ổn định với nước hơn so với mặt đường đá dăm nước. Tuy nhiên khi lu lèn chặt thì khả năng ổn định đối với nước cũng tương đối cao. - Yêu cầu vật liệu cao, việc chế tạo CPĐD đòi hỏi phải được thực hiện trong xí nghiệp với dây chuyền công nghệ rất hiện đại, do vậy giá thành tương đối cao.
- Công tác vận chuyển và thi công dễ xảy ra hiện tượng phân tầng làm ảnh hưởng đến sự làm việc đồng nhất và chất lượng móng đường. Trang 19 Chương 1: Tổng quan về vật liệu cấp phối đá dăm - Khi thi công chú ý công tác đầm lèn phải đạt độ ẩm tốt nhất do đó khó khăn trong việc khống chế độ ẩm và chịu ảnh hưởng nhiều vào điều kiện thời tiết khi thi công.Phạm vi sử dụng CPĐD loại I được sử dụng làm lớp móng trên (và móng dưới trên cơ sở xem xét yếu tố kinh tế, kỹ thuật) của kết cấu áo đường mềm có tầng mặt loại A1, A2 theo 22TCN 211-06 hoặc làm lớp móng trên theo 22TCN 274 - 01.