Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của luận văn 1. Một số quan niệm về nghèo và hộ nghèo 1. Một số quan niệm về nghèo Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định.
Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian. Tổ chức y tế thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập. Theo đó một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita Incomme, PCI) của quốc gia [5]. Theo quan điểm nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh thì nghèo là không có thức ăn bổ dưỡng, phải tiết kiệm tiền cho bữa ăn hôm sau, chẳng có phương tiện đi lại, cuộc sống không ổn định, buôn bán nhỏ lẻ, trẻ con chỉ đi học khi nào có tiền, chẳng có ai giúp đỡ, không được chơi tennis, chẳng có gì giải trí ngoài đánh bạc và mua vé số.
[1] * Nghèo tuyệt đối Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển, Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới, đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối. Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: “Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng của giới trí thức chúng ta’’. Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối.
Trong những bước sau đó các trị ranh giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ 2 đô la cho khu vực Mỹ La tinh và Carribean đến 4 đô la cho những nước Đông Âu cho đến 14,40 đô la cho những nước công nghiệp. n 12 * Nghèo tương đối Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân. Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó. Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc.
Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định khách quan. Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn. Việc nghèo đi về văn hóa - xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được các nhà xã hội học xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng. Hộ nghèo và phương pháp xác định chuẩn nghèo của Chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia * Hộ nghèo Ngày 30/01/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015.
Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 như sau: Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.000 đồng/người/năm) trở xuống. Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000 đồng/người/năm) trở xuống. Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng. Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/người/tháng.
[4] Chuẩn mực xác định nghèo ở Việt Nam qua các giai đoạn như sau: n 13 Bảng 1. Chuẩn nghèo đói được xác định qua các thời kỳ từ năm 1993 đến 2011 Hộ đói Hộ nghèo Giai đoạn Đơn vị tính Dưới mức Dưới mức 1. Giai đoạn 1993 - 1994 Gạo Khu vực nông thôn Kg/người/tháng 8 15 Khu vực thành thị Kg/người/tháng 13 20 2. Giai đoạn 1995 - 1997 Gạo Vùng nông thôn miền núi, hải đảo Kg/người/tháng 13 15 Vùng nông thôn đồng bằng, trung du Kg/người/tháng 13 20 Vùng thành thị Kg/người/tháng 13 25 3.
Giai đoạn 1997 - 2000 Tiền Vùng nông thôn miền núi, hải đảo Đồng/người/tháng 45 55 Vùng nông thôn đồng bằng, trung du Đồng/người/tháng 45 70 Vùng thành thị Đồng/người/tháng 45 90 4. Giai đoạn 2001 - 2005 Tiền Vùng nông thôn miền núi, hải đảo Đồng/người/tháng - 80 Vùng nông thôn đồng bằng, trung du Đồng/người/tháng - 10 Vùng thành thị Đồng/người/tháng - 150 5. Giai đoạn 2006 - 2010 Tiền Khu vực nông thôn Đồng/người/tháng - 200 Khu vực thành thị Đồng/người/tháng - 260 6. Giai đoạn 2010-2015 Tiền Khu vực nông thôn Đồng/người/tháng 400 Khu vực thành thị Đồng/người/tháng 500 (Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) 1.
Khái niệm sinh kế và hoạt động sinh kế 1. Khái niệm sinh kế Ý tưởng về sinh kế đã có từ tác phẩm của Robert Chambers vào giữa những năm 80 (sau đó được phát triển hơn nữa bởi Chamber, Conway và những người n 14 khác vào đầu những năm 1990). Từ đó một số cơ quan phát triển đã tiếp nhận khái niệm sinh kế và cố gắng đưa vào thực hiện. Sinh kế của một hộ gia đình, hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai hay phương kế kiếm sống của hộ gia đình hay cộng đồng đó.
Theo Chamber and Conway (1992): Một sinh kế bao gồm khả năng (capacity), tài sản (assets)- (các nguồn dự trữ, các nguồn tài nguyên, quyền được bảo vệ và tiếp cận)- và các hoạt động cần có cho một cách thức kiếm sống. Theo Ellis: Một sinh kế bao gồm tài sản (tự nhiên, phương tiện vật chất,con người, tài chính và vốn xã hội), các hoạt động, và việc tiếp cận đến các tài sản và các hoạt động này (qua thể chế, quan hệ xã hội), tất cả cùng nhau xác định sự sống mà cá nhân hay hộ gia đình nhận được. Theo DFID thì sinh kế có thể được mô tả là một tập hợp của việc sử dụng các nguồn lực thực hiện các hoạt động để sống. Các nguồn lực có thể bao gồm kỹ năng và khả năng (vốn con người) của một cá nhân, đất đai, tiết kiệm và trang thiết bị (vốn tự nhiên, tài chính và vật chất), các nhóm hỗ trợ chính thức hay các mạng lưới không chính thức hỗ trợ cho việc thực thi hoạt động (vốn xã hội).
Khái niệm hoạt động sinh kế Hoạt động sinh kế là các hoạt động cụ thể do con người làm chủ thể. Và hoạt động đó được tiến hành trong cuộc sống hằng ngày để tạo thu nhập nhằm thỏa mãn nhu cầu sống của họ. Thông thường, đối với một cộng đồng thì luôn luôn tồn tại hai hoạt động sinh kế sau: - Hoạt động nông nghiệp gồm: Trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thuỷ sản. - Hoạt động phi nông nghiệp gồm: Buôn bán, dịch vụ, làm thuê, xay xát,.
Hoạt động sinh kế của nông hộ gồm có: Trồng trọt (lúa, ngô, sắn, khoai,.) và chăn nuôi (trâu, bò, lợn, gà,. Các khái niệm liên quan Theo DFID sinh kế bao gồm 3 thành tố chính: Nguồn lực và khả năng con người có được, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế có quan niệm cho rằng sinh kế không đơn thuần chỉ là vấn đề kiếm sống, kiếm miếng ăn và nơi ở. Mà nó còn đề n 15 cập đến vấn đề tiếp cận các quyền sở hữu, thông tin, kỹ năng, các mối quan hệ,…(Wallmann, 1984). Sinh kế cũng được xem như là “sự tập hợp các nguồn lực và khả năng mà con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ”(DFID).
Về cơ bản các hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân hay hộ gia đình tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ và đồng thời chịu tác động của các thể chế chính sách và các mối quan hệ xã hội và mỗi cá nhân và hộ gia đình tự thiết lập trong cộng đồng. * Khái niệm chiến lược sinh kế Chiến lược sinh kế dùng để chỉ phạm vi và sự kết hợp những lựa chọn và quyết định mà người dân đưa ra trong việc sử dụng, quản lí các nguồn vốn và tài sản sinh kế nhằm tăng thu nhập và nâng cao đời sống cũng như để đạt được mục tiêu nguyện vọng của họ. * Khái niệm sinh kế bến vững Khái niệm sinh kế lần đầu tiên được đề cập trong báo cáo Brundland (1987) tại hội nghị thế giới vì môi trường và phát triển. Một sinh kế được cho là bền vững khi con người có thể đố phó và khắc phục được những áp lực và cú sốc.
Đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản ở cả hiện tại và trong tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên. * Khung phân tích sinh kế bền vững IFAD [10] n 16 Kết quả sinh kế TÀI SẢN SINH KẾ + Tăng thu Cơ cấu và tiến trình thực hiện nhập + Tăng sự Phạm vi ổn định Cơ cấu Quá rủi ro + Giảm rủi + Các trình + Các cú CHIẾN cấp tiến ro sốc H Ảnh LƯỢC chính hành + Nâng cao + Các hưởng SINH S N quyền + Luật lệ an toàn khuynh và khả KẾ + Đơn vị + Chính lương thực hướng năng P tổ chức sách + Sử dụng + Tính P tiếp cận + Văn bền vững thời vụ hơn các hóa + thể chế nguồn lực tự chính nhiên sách Ký hiệu: - H: Nguồn lực con người - N: Nguồn lực tự nhiên - S: Nguồn lực xã hội - P: Nguồn lực tài chính - P: Nguồn lực vật chất Hình 1. Khung phân tích sinh kế * Khái niệm các nguồn vốn sinh kế Nguồn vốn sinh kế được hiểu như là các điều kiện khách quan và chủ quan tác động vào một sự vật hiện tượng làm cho nó thay đổi về chất hoặc lượng. Trong phạm vi đề tài này, các yếu tố về con người, tự nhiên, vật chất, tài chính, xã hội, các thể chế chính sách mà xã hội quy định.
Các nguồn vốn đó được hiểu như sau: + Nguồn vốn con người: Con người là cơ sở nguồn vốn này.