Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Lịch sử phát hiện Được phát hiện lần đầu tiên bởi Froelich khi nghiên cứu giống Uncinaria ở ruột non của cáo và tác giả đặt tên là “giun móc” do đặc điểm của nó. Sau đó, năm 1838, bác sĩ Angelo Dubini người Ý, đã phát hiện loài Ancylostoma duodenale (A.
duodenale) thuộc họ Ancylostomidae ở ruột non của một tử thi là phụ nữ. Năm 1884, Railliet đã tiến hành phân loại và tìm thấy loài giun tròn Uncinaria stenocephala (U. stenocephala) gây bệnh Ancylostomiosis. Năm 1948, Petrov xác định được vòng phát triển và đường xâm nhập của ấu trùng vào cơ thể vật chủ là xuyên qua da ký chủ, hoặc qua đường tiêu hóa (Phan Thế Việt và cs, 1977) [37].
Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra của Đỗ Dương Thái (1975) [28], Phan Thế Việt và cs (1977) [37]: Ancylostomiosis là một bệnh phức hợp, có sự tham gia tấn công của nhiều loài giun tròn khác nhau, bao gồm cả Ancylostoma caninum (A. caninum), Ancylostoma braziliense (A. braziliense) và Uncinaria stenocephala (U. Vị trí của giun móc hệ thống phân loại động vật học Theo khoá phân loại động vật của Phan Thế Việt và cs (1977) [37]; Nguyễn Thị Lê (1996) và cs [20] thì vị trí của giun móc trong hệ thống phân loại động vật như sau: Ngành Nemathelminthes, Huxley, 1856 Lớp Nematoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Rhabditia Pearse, 1942 Bộ Strongylida Railliet et Henry, 1913 5 Họ Ancylostomatidae Looss, 1905 Phân họ Ancylostomatinae Looss, 1911 Giống Ancylostoma Dubini, 1893 Loài Ancylostoma caninum (Ercolani, 1859) Loài Ancylostoma braziliense (Faria, 1910) (ký sinh ở ruột non chó) Phân họ Bunostomatinae Looss, 1911 Giống Uncinaria Foelich, 1789 Loài Uncinaria stenocephala Railliet, 1884 (ký sinh ở ruột non của chó) 1.
Đặc điểm sinh học của giun móc ký sinh ở chó 1. Đặc điểm hình thái, cấu tạo * Hình thái - Loài Ancylostoma caninum (Ercolani, 1859) Là loài giun tròn nhỏ, thân hình sợi chỉ, màu vàng nhạt, đoạn trước cong về phía lưng, bao miệng mỗi bên có 2 răng 3 chạc lớn, cong vào phía trong, miệng hình bầu dục. Con đực dài 9 - 12 mm, đuôi có túi kitin, 2 gai giao hợp bằng nhau dài 0,74- 0,87 mm, bánh lái dài 0,13 - 0,21 mm. Con cái dài 10 - 21 mm, đuôi có gai nhọn, âm hộ nằm 1/3 phía sau của thân.
Trứng hình bầu dục dài 0,06 - 0,066 mm, rộng 0,037- 0,042 mm. Trứng có nhiều nhân, vỏ trong suốt. - Loài Ancylostoma braziliense (Faria, 1910) Giun nhỏ hơn Ancylostoma caninum, cơ thể hình trụ, thon nhỏ 2 đầu. Con đực dài 6,6 - 8,1 mm, rộng 0,278 - 0,354 mm.
Lớp biểu bì dày, có vân ngang, đầu hơi cong về mặt bụng, nang miệng hình cầu, có một đôi răng không phân nhánh. Thực quản dài 0,62 - 0,69 mm. Túi sinh dục phát triển, các nhóm sườn đều chung một gốc, sau đó mới phân tách. Gai sinh dục bằng nhau, dài 1,05 -1,30 mm, phần cuối thon nhỏ dần.
6 Con cái dài 7,3 - 9,6 mm, đầu cong về mặt bụng. Âm hộ cách mút đuôi 2,65 -3,04 mm. Đuôi hình nón, mút đuôi có gai nhọn, dài 0,005 mm. Trứng hình ô van, kích thước 0,040 - 0,30 mm.
- Loài Uncinaria stenocephala (Railliet, 1884): Có màu vàng nhạt, hai đầu hơi nhọn. Túi miệng rất lớn, về mặt bụng của túi miệng có 2 đôi răng hình bán nguyệt xếp đối xứng nhau. Giun đực dài 6 - 11 mm, rộng nhất 0,28 - 0,34 mm, có túi đuôi phát triển, 2 gai giao hợp dài bằng nhau 0,65 - 0,75 mm, đầu mút của gai rất nhọn. Giun cái dài 9 - 16 mm, rộng nhất 0,28 - 0,37 mm, lỗ sinh dục ở vào 1/3 phía trước cơ thể.
Trứng hình bầu dục, có kích thước 0,078 - 0,083 x 0,052 - 0,059 mm. Những nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước như Đỗ Hài (1972) [3], Phạm Sỹ Lăng và cs (1989) [13], Phạm Sỹ Lăng (1990) [14], Phạm Sỹ Lăng và cs (1993 [15] đều xác nhận: vật chủ của A. caninum là chó, mèo rừng, hổ, sư tử, báo.braziliense thường ký sinh ở ruột non của chó và mèo, giun trưởng thành sống khoảng chừng 4 đến 8 tháng trong cơ thể chó. stenocephala có vật chủ là chó và mèo, chúng thường ký sinh ở ruột non, tập trung chủ yếu ở đoạn tá tràng.
Giun móc trưởng thành sống ở ruột non của chó, tập trung ở tá tràng, không tràng, kết tràng và đẻ trứng tại đó, dạng ấu trùng có thể nằm im không hoạt động trong các tổ chức cơ, đặc biệt là dưới da khi chúng xâm nhập vào cơ thể người. Nếu vật chủ cuối cùng nhiễm phải dạng ấu trùng này thì chúng có thể được giải phóng và phát triển tới dạng trưởng thành. Sự phát triển của A. caninum trong ruột chó đến giai đoạn trưởng thành kéo dài 14 - 16 ngày.
Các nghiên cứu của OIE (2005) [56] đã xác nhận: thời gian sống của giun móc trong cơ thể chó từ 8 - 20 tháng. 7 Nguyễn Phước Tương (2000) [36] cho biết, người cũng có thể nhiễm giun móc chó A. caninum, chu kỳ phát triển của giun móc ở người tương tự như ở chó, mèo. Ấu trùng L3 có thể xuyên qua lớp da mỏng mịn giữa ngón chân, da bụng để gây nhiễm cho người.
Đôi khi người bị bệnh là do ăn phải ấu trùng L3 có trong thức ăn thực vật, trong nước nấu chưa chín. + Sức đề kháng của trứng và ấu trùng: Lefkaditis và cs (2006) [55]cho biết, một giun móc trưởng thành A.caninum có thể đẻ 7000 - 28000 trứng/ngày. Nhiệt độ thích hợp để trứng phát triển tới dạng ấu trùng là 23 - 30°C, chúng không thể phát triển tới dạng ấu trùng khi nhiệt độ < 15oC, ở 15oC ấu trùng gây nhiễm có thể xuất hiện trong phân 22 ngày sau khi trứng được thải ra. Ớ 37oC ấu trùng gây nhiễm xuất hiện ít nhất trong phân sau 47giờ.
Hầu hết ấu trùng không thể sống sót khi nhiệt độ >37oC. Các nghiên cứu của OIE (2005) [56] cho biết, trứng của các loài giun móc thải theo phân ra ngoài, phát triển tới giai đoạn ấu trùng Li và nở ngoài môi trường sau một vài ngày. Thức ăn của chúng là các vi sinh vật có trong đất, ấu trùng Li qua 2 lần lột xác để phát triển thành ấu trùng gây nhiễm L3, L3 hoạt động mạnh, hướng tới các ngọn cỏ, lá rau và tìm cách xâm nhập vào ký chủ thích hợp. Ảu trùng L3 có thể tồn tại một thời gian dài ở môi trường trong những điều kiện thích hợp, nhưng dễ bị tác động bởi điều kiện lạnh, khô và nhiệt độ > 45oC.
Nghiên cứu cũng cho biết, dung dịch I2 (iod) từ 50 - 60%o, dung dịch NaOH (hydroxit Natri) 1% và glutaraldehyde 2%, ở 15 - 30 oC có thể diệt ấu trùng trong vòng 15 phút hoặc ít hơn. Do đó dung dịch NaOH có thể được sử dụng để tay uế môi trường đất bị ô nhiễm bởi trứng của giun móc chó. Đặc điểm vòng đời sinh học - Loài Ancylostoma caninum (Ercolani, 1859) Giun trưởng thành sống ở niêm mạc ruột non của ký chủ, tập trung chủ yếu ở tá tràng, không tràng và kết tràng. Giun cái mỗi ngày đẻ ra 10.
Trứng mới bài xuất ra ngoài có từ 2 - 8 tế bào nhân, ấu trùng 8 phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm nếu gặp điều kiện thuận lợi. Ấu trùng không phát triển tới giai đoạn cảm nhiễm ở nhiệt độ dưới 170C. Ấu trùng giun móc phát triển qua 3 giai đoạn để trở thành ấu trùng cảm nhiễm. Ấu trùng tuy cần độ ẩm nhưng không phát triển trong nước mặn, khi bị khô, ấu trùng sẽ chết nhanh trong 24 giờ.
Do vậy việc lan truyền bệnh bị hạn chế trong mùa khô. Theo Đỗ Dương Thái và cs (1978) [29], ấu trùng gây nhiễm dài 0,59 - 0,69mm có màng bọc bên ngoài và chứa 30 - 34 tế bào ruột, ấu trùng có hướng động đặc biệt là tìm đến vật chủ gần chúng và đến vị trí cao nhất. Sự phát triển tiếp theo của ấu trùng A. caninum tiến hành trên cơ thể ký chủ và cảm nhiễm vào ký chủ theo 2 con đường: + Qua đường tiêu hoá: ấu trùng được ký chủ nuốt vào đường tiêu hoá qua thức ăn, nước uống.
Vào ruột, ấu trùng lột xác và sau một thời gian di hành thì phát triển thành giun trưởng thành. + Qua da: ấu trùng cảm nhiễm xâm nhập qua da vào hệ thống tuần hoàn đến tim, phổi, xuyên qua phế nang vào phế quản. Khi vật chủ ho, ấu trùng lên hầu và được nuốt xuống đường tiêu hoá, từ đó phát triển thành giun trưởng thành và ký sinh ở ruột non. Thời gian phát triển đến giai đoạn trưởng thành từ 14 - 16 ngày.
Giun trưởng thành có thể sống trong cơ thể ký chủ từ 43 - 100 tuần. Trịnh Văn Thịnh (1963) [31] cho biết: ấu trùng giun móc khi chui qua da làm cho con vật bị ngứa và viêm da, ấu trùng còn gây tổn thương ở phổi. Giun trưởng thành hút nhiều máu, răng 6 móc được cấu tạo bằng chất kitin cắm sâu vào niêm mạc ruột gây tổn thương niêm mạc, đồng thời giun còn tiết chất kháng đông máu, giúp giun móc dễ hút máu. Độc tố và sản vật của giun làm hồng cầu giảm, bạch cầu toan tính tăng.
- Loài Ancylostoma braziliense (Faria, 1910) Giun trưởng thành ký sinh ở ruột non, giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài. Ở môi trường bên ngoài, sau 20 giờ tới một vài ngày, nếu gặp 9 điều kiện thuận lợi, phôi bào trong trứng phát triển tới dạng ấu trùng. Ấu trùng thoát ra khỏi trứng, qua 2 lần lột xác thành ấu trùng cảm nhiễm và xâm nhập vào ký chủ theo 2 con đường: + Qua thức ăn, nước uống vào đường tiêu hoá, ấu trùng chui vào thành ruột, dạ dày. Ở đó vài ngày rồi về ruột non phát triển đến giai đoạn trưởng thành.
+ Qua da: ấu trùng gây nhiễm qua da ký chủ về hệ thống tuần hoàn, về tim, lên phổi, qua phế bào đến khí quản rồi về ruột non phát triển tới giai đoạn trưởng thành. Thời gian hoàn thành vòng đời từ 14-20 ngày. - Loài Uncinaria stenocephala (Railiet,1884) Các loài giun tròn thuộc họ Ancylostomatidae đều phát triển trực tiếp. Giun trưởng thành đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài.
Trứng và ấu trùng có sức đề kháng với ngoại cảnh. caninum, ấu trùng U. stenocephala qua 3 lần lột xác phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm, ấu trùng có thể đi xa và có thể gây bệnh. Chó bị nhiễm qua 2 con đường: + Qua miệng: ấu trùng gây nhiễm theo thức ăn nước uống vào cơ thể gây bệnh cho ký chủ.
Fulleborn thấy rằng: ấu trùng cảm nhiễm vào ruột ký chủ, phát triển ở tầng dưới của nhung mao và trong tuyến nhày Lieberkul, sau đó chúng quay lại nhung mao của ruột non.