Luận án về ứng xử kháng chọc thủng của liên kết cột ống thép và sàn bê tông cốt thép

Chuyên khảo phân tích Luận án ứng xử kháng chọc thủng của liên kết cột ống thép nhồi bê tông và sàn phẳng bê tông cốt thép, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Kỹ Thuật Xây Dựng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án
144
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CỘT CFT VÀ LIÊN KẾT VỚI SÀN PHẲNG BTCT

1.1. Cột ống thép nhồi bê tông

1.2. Sàn phẳng bê tông cốt thép

1.3. Liên kết của sàn phẳng BTCT và cột CFT

1.4. Ưu nhược điểm của các liên kết đã công bố của các tác giả

1.5. Khả năng kháng nén thủng của sàn phẳng BTCT theo các tiêu chuẩn hiện hành

2. CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LIÊN KẾT SÀN PHẲNG BTCT VÀ CỘT CFT

2.1. Mô hình thí nghiệm

2.2. Thiết bị thí nghiệm

2.3. Tiến hành thí nghiệm và xử lý kết quả

3. CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH SỰ LÀM VIỆC CỦA LIÊN KẾT SÀN PHẲNG BTCT VÀ CỘT CFT BẰNG PHƯƠNG PHÁP SỐ

3.1. Giới thiệu về phần mềm ABAQUS

3.2. Các bài toán mô phỏng số của tác giả đã thí nghiệm

3.3. Áp dụng tính toán khả năng nén thủng cực hạn của mẫu S-02-M-V theo các tiêu chuẩn TCVN 5574:2012, EC2 và ACI 318-11

MỞ ĐẦU

KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của luận án

Trong những thập niên qua, kết cấu thép – bê tông liên hợp đã được sử dụng ngày càng rộng rãi trong các công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp. Hệ kết cấu này có khả năng chịu lực, độ cứng và độ dẻo dai cao, đáp ứng tốt công năng sử dụng. Tuy nhiên, nhu cầu cần có một hệ kết cấu mới có thể giảm chiều cao tầng, giảm kích thước cột, tăng nhịp cấu kiện là rất cần thiết. Hệ kết cấu cột ống thép nhồi bê tông (CFT) và sàn phẳng bê tông cốt thép (BTCT) là một giải pháp phù hợp với các tiêu chí này. Việc nghiên cứu ứng xử kháng chọc thủng của liên kết giữa cột CFT và sàn phẳng BTCT là một yếu tố then chốt trong việc đảm bảo khả năng chịu lực của hệ. Đề xuất chi tiết liên kết mới giữa sàn phẳng BTCT và cột CFT có cấu tạo đơn giản, dễ chế tạo và phù hợp với điều kiện thi công ở Việt Nam.

II. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu bao gồm việc đề xuất loại liên kết giữa sàn phẳng BTCT và cột CFT phù hợp với điều kiện thi công tại Việt Nam. Nghiên cứu ứng xử và khả năng kháng nén thủng của liên kết này sẽ được thực hiện thông qua thực nghiệm và mô phỏng số. Đặc biệt, việc đề xuất công thức dự đoán khả năng kháng nén thủng của liên kết sẽ giúp nâng cao độ tin cậy trong thiết kế. Những kết quả thu được từ nghiên cứu này sẽ góp phần bổ sung kiến thức mới trong lĩnh vực kết cấu thép – bê tông liên hợp.

III. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của đề tài là sự kết hợp giữa nghiên cứu thực nghiệm và mô phỏng số. Nghiên cứu thực nghiệm sẽ phân tích ứng xử và khả năng chịu lực của liên kết giữa sàn phẳng BTCT và cột CFT. Đồng thời, một quy trình mô phỏng số bằng phần mềm ABAQUS sẽ được thiết lập để dự đoán ứng xử của liên kết. Kỹ thuật mô phỏng sẽ được kiểm chứng qua việc so sánh với kết quả thực nghiệm, từ đó đảm bảo tính khả thi và hiệu quả của giải pháp kết cấu đề xuất.

IV. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy liên kết giữa sàn phẳng BTCT và cột CFT có khả năng kháng nén thủng tốt. Các thí nghiệm đã chỉ ra rằng liên kết này có thể chịu được tải trọng lớn mà không xảy ra hiện tượng phá hoại sớm. So sánh với các liên kết khác, liên kết đề xuất cho thấy hiệu quả vượt trội trong việc chịu lực và đảm bảo an toàn cho công trình. Những dữ liệu thu thập được từ thí nghiệm sẽ là cơ sở để hoàn thiện các công thức dự đoán khả năng kháng nén thủng của liên kết.

V. Phân tích mô phỏng số

Mô phỏng số bằng phần mềm ABAQUS đã được thực hiện để phân tích ứng xử của liên kết giữa sàn phẳng BTCT và cột CFT. Kết quả mô phỏng cho thấy sự tương đồng cao với kết quả thực nghiệm, chứng minh độ tin cậy của mô hình số. Phân tích này không chỉ giúp dự đoán khả năng kháng nén thủng mà còn cung cấp thông tin quý giá cho việc thiết kế và tối ưu hóa các chi tiết liên kết trong thực tiễn xây dựng.

VI. Kết luận và hướng phát triển

Luận án đã đề xuất một chi tiết liên kết mới giữa sàn phẳng BTCT và cột CFT, đồng thời xác định khả năng kháng nén thủng của liên kết này thông qua thực nghiệm và mô phỏng số. Những kết quả đạt được không chỉ có giá trị khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn cao, mở ra hướng nghiên cứu mới cho các dạng liên kết khác trong tương lai. Việc áp dụng các tiêu chuẩn TCVN 5574:2012, EC2 và ACI 318-11 trong tính toán khả năng kháng nén thủng sẽ giúp nâng cao độ tin cậy trong thiết kế kết cấu.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CỘT CFT VÀ LIÊN KẾT VỚI SÀN PHẲNG BTCT 1. Cột ống thép nhồi bê tông Đặc điểm Cột CFT là cấu kiện kết cấu liên hợp gồm vỏ ống thép và bê tông lõi cùng làm việc chung (Hình 1. Cột CFT ngày càng được sử dụng rộng rãi do có nhiều ưu điểm hơn so với cột thép và cột BTCT truyền thống về mặt kết cấu, thi công và kiến trúc như sau [34]: − Hiệu quả về mặt kết cấu: + Sự tương tác giữa ống thép và lõi bê tông: Lõi bê tông giúp giảm nguy cơ xảy ra mất ổn định cục bộ và hạn chế sự suy giảm cường độ sau khi mất ổn định cục bộ của ống thép; Cường độ chịu nén của bê tông được tăng lên do hiệu ứng bó lõi bê tông của ống thép và sự suy giảm cường độ của lõi bê tông cũng không xảy ra đột ngột do có vỏ thép ngăn sự nứt tách của bê tông; Những điều trên làm tăng cường độ, độ dẻo dai và khả năng hấp thu năng lượng khi chịu động đất của cấu kiện; + Sự co ngót và từ biến của bê tông nhỏ hơn nhiều so với BTCT thông thường; + Khả năng chống va đập của bề mặt cột cao. − Hiệu quả về mặt thi công: Ống thép làm kiêm nhiệm vụ cốp pha và thường không cần cốt thép; Thông thường cột ống thép được thi công trước để tạo hệ kết cấu chắc chắn và ổn định thì bê tông mới được bơm nhồi vào nên có thể đẩy nhanh tốc độ thi công và giảm chi phí làm sạch công trường.

− Khả năng chống cháy: Tốt hơn cột thép do có lõi bê tông ngăn cản sự tăng nhiệt của vỏ thép khi chịu lửa. − Cột CFT tiết diện nhỏ gọn nên tiết kiệm không gian sử dụng và cấu kiện thanh mảnh nên có tính thẩm mỹ cao. 7 Lõi bê tông Vỏ thép a) Cột vuông, chữ nhật b) Cột tròn Hình 1.1: Cấu tạo điển hình của cột ống thép nhồi bê tông Phân loại Cấu tạo của cột CFT rất đa dạng. Dựa vào hình dạng và cấu tạo của mặt cắt ngang, cột CFT được phân loại như sau: Cột CFT đặc Cột CFT đặc là loại cột CFT điển hình có cấu tạo gồm ống thép tiết diện rỗng hình tròn, hình vuông, hình chữ nhật được nhồi bê tông đặc [17].

Trong một số trường hợp do yêu cầu về mặt kiến trúc và cần có sự chịu lực khác nhau theo hai phương, tiết diện ống thép có thể là hình đa giác, ô-van hay e-lip như Hình 1. Ống thép Ống thép Ống thép Bê tông Bê tông Bê tông Ống thép Ống thép Bê tông Ống thép Bê tông Bê tông Hình 1.2: Cấu tạo cột CFT đặc [17] Trong các trường hợp trên, cột tròn có tác động bó lõi bê tông tốt nhất trong 8 khi sự mất ổn định cục bộ dễ xảy ra đối với cột tiết diện vuông hoặc chữ nhật. Cột CFT mặt cắt rỗng Cột CFT mặt cắt rỗng có 2 lớp vỏ thép bọc mặt ngoài và mặt trong, kẹp ở giữa là lớp lõi bê tông (Hình 1. Dạng cột này có khả năng chịu lực, độ cứng kháng uốn, độ dẻo dai và khả năng chống cháy cao hơn so với cột CFT đặc, phù hợp với dạng cột có tiết diện ngang lớn.

Chiều dày vỏ và trọng lượng bản thân của cấu kiện loại này cũng nhỏ hơn so với cột CFT đặc. Thêm nữa, các loại vật liệu khác nhau có thể được sử dụng cho loại cột này để đảm bảo tính thẩm mỹ và khả năng chống ăn mòn, ví dụ ống thép ngoài có thể dùng thép không gỉ trong khi ống thép trong vẫn dùng thép thông thường [17]. Ống thép Bê tông Hình 1.3: Cấu tạo cột CFT mặt cắt rỗng [17] Cột CFT được bọc BTCT Cột CFT được bao bởi BTCT có cấu tạo gồm ống thép nhồi bê tông đặt bên trong cột BTCT truyền thống (Hình 1. Ống thép đặt chìm ở phía trong sẽ làm tăng sự bó lõi của bê tông bên trong và làm tăng khả năng chịu lực của cột.

Phần BTCT bọc bên ngoài tạo thành lớp chống cháy cho phần cột CFT bên trong làm cho khả năng chống cháy của loại cấu kiện này tốt hơn cột CFT thông thường. Loại cột này có thể liên kết dễ dàng với sàn phẳng BTCT hay sàn sườn BTCT hay dầm thép [17]. Bê tông Ống thép Bê tông Ống thép Bê tông Cốt thép Cốt thép Hình 1.4: Cấu tạo cột CFT được bọc BTCT [17] 9 Cột CFT có gia cường bằng cốt thép, cốt cứng và sườn tăng cứng Việc gia cường cốt thép và cốt cứng nằm bên trong ống thép (Hình 1.5) làm tăng khả năng chịu lực của cột mà không làm thay đổi dạng tiết diện của cột. Trường hợp cột có tiết diện lớn hoặc có vỏ thép thành mỏng làm bằng thép cường độ cao cần bố trí các sườn tăng cứng, có thể hàn bên trong ống theo phương dọc trục hoặc hàn vuông góc tiết diện ống, giúp giảm nguy cơ ổn định cục bộ của ống thép và làm tăng thêm độ dẻo dai của cột [17].

Ống thép Ống thép bên trong Cốt cứng Bê tông Cốt thép Sườn tăng cứng Ống thép Bê tông Hình 1.5: Cấu tạo cột CFT được gia cường bằng cốt thép, cốt cứng (thép hình) và sườn tăng cứng [17] Một số công trình sử dụng cột CFT Cột CFT có nhiều ưu điểm nên được sử dụng thay thế cho cột BTCT và cột thép truyền thống trong giải pháp kết cấu công trình ở các nước như Anh, Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam… cho nhà dân dụng và công nghiệp, ga điện ngầm, tháp điện cao thế, cột điện, cầu… Sau đây sẽ trình bày một số công trình nhà tiêu biểu. Tòa nhà Fleet Place House (Anh) Tòa nhà phức hợp Fleet Place House ở nước Anh gồm 8 tầng (Hình 1.6) sử dụng cột ống thép tròn nhồi bê tông với đường kính ngoài của ống thép là 323. Độ dày của thành ống thép của tầng 1 là 30 mm, tầng 2 đến tầng 6 là 16 mm và các 10 tầng còn lại là 12. Bê tông được sử dụng có cấp độ bền từ B40 đến B60 [34].6: Tòa nhà Fleet Place House [34] Tòa nhà Queensberry House (Anh) Tòa nhà văn phòng thương mại Queensberry House ở nước Anh gồm 6 tầng (Hình 1.7) với bước cột 6 m và nhịp của công trình là 12 m.

Tòa nhà sử dụng cột ống thép tròn nhồi bê tông mặt cắt rỗng với ống thép ngoài có đường kính ngoài là 457 mm và chiều dày là 10 mm, ống thép trong có đường kính ngoài là 323.9 mm và chiều dày là 6.7: Tòa nhà Queensberry House [34] 11 Tòa nhà Strong Building (Nhật) Tòa nhà Strong Building gồm 8 tầng (Hình 1.8) sử dụng giải pháp kết cấu gồm cột tròn ống thép nhồi bê tông và sàn phẳng BTCT được xây dựng ở thành phố Kobe của Nhật với diện tích sàn là 6593 m2.8: Tòa nhà Strong Building (Nguồn http://www.jp/takenaka_e/projects/retail/a43500142005. Sàn phẳng bê tông cốt thép Sàn phẳng BTCT được sử dụng rộng rãi trong các công trình dân dụng vì có những ưu điểm vượt trội hơn so với hệ sàn dầm như sau [15]: − Phù hợp với công trình có hệ lưới cột phức tạp. − Thỏa mãn những yêu cầu về kiến trúc: Thuận lợi cho việc chiếu sáng, thông gió và thoát nhiệt; không cần sử dụng trần giả, việc ngăn chia các phòng trên mặt sàn linh hoạt, rất thích hợp với việc sử dụng vách ngăn nhẹ di động. − Giảm được chiều cao tầng nên giảm được chiều cao toàn bộ công trình.

− Giảm thiểu năng lượng cần làm mát hoặc sưởi ấm công trình. − Không có những góc cạnh lồi ra như sàn dầm nên có khả năng chống cháy cao hơn. − Thuận lợi cho thi công: Công tác ván khuôn đơn giản, tiết kiệm và dễ dàng trong việc bố trí cốt thép. − Giảm chi phí xây dựng và vận hành công trình và rút ngắn thời gian thi công 12 công trình.

Với các ưu điểm nêu trên, hệ sàn phẳng BTCT hiện nay rất được ưa chuộng và được sử dụng rộng rãi trong nhà nhiều tầng ở nhiều quốc gia như các tòa cao ốc văn phòng và chung cư, nhà để xe. Khi thiết kế sàn phẳng BTCT, vấn đề quan trọng là liên kết sàn − cột rất dễ bị phá hoại do hiện tượng nén thủng và đó là bộ phận duy nhất truyền lực từ sàn vào cột. Khái niệm về hiện tượng nén thủng Nén thủng của liên kết sàn phẳng − cột BTCT là hiện tượng phá hoại do cắt cục bộ thường có dạng hình chóp cụt tại liên kết đầu cột và sàn (Hình 1. Đây là dạng phá hoại giòn, xảy ra đột ngột và thường khó phát hiện dấu hiệu báo trước, làm mất đi hoàn toàn khả năng truyền lực của các ô sàn xung quanh vào cột tại vị trí bị nén thủng, gây ra sự quá tải của các liên kết lân cận khác, làm phá hoại chúng và cuối cùng có thể dẫn đến phá hoại toàn bộ kết cấu công trình.9: Nén thủng sàn dạng hình côn với những góc 60o, 45o và 30o [31] Kinnuen và Nylander (1960) [25] đã tiến hành các thí nghiệm nén thủng của liên kết sàn phẳng tròn - cột giữa tròn BTCT.

Kết quả thí nghiệm cho thấy có 2 dạng phá hoại chính gồm sự chảy dẻo của cốt thép chịu uốn khi có hàm lượng nhỏ và sự phá hoại của sàn do hiện tượng nén thủng (Hình 1. Tháp nén thủng trong thí nghiệm của Kinnuen và Nylander (1960) [25] được hình thành qua 5 giai đoạn như sau: (1) Các vết nứt do uốn theo phương tiếp tuyến xuất hiện đầu tiên tại mặt trên 13 của sàn xung quanh chu vi cột do mô men âm.10: Dạng phá hoại mẫu thí nghiệm của Kinnuen và Nylander (1960) [25] (3) Sau đó các vết nứt tiếp tuyến khác sẽ xuất hiện bên ngoài chu vi cột. (4) Khi tiếp tục gia tải, các vết nứt tiếp tuyến (3) phát triển lệch khỏi phương thẳng đứng ban đầu và hướng xiên về phía mặt cột ở mặt dưới sàn. (5) Với sự gia tăng chuyển vị đứng, vết nứt mở rộng đến mép cột.

Vết nứt cắt cuối cùng hoặc trùng hoặc nằm ngoài vết nứt tiếp tuyến ngoài cùng mà đã xuất hiện trước khi phá hoại.11: Sự hình thành tháp nén thủng theo thí nghiệm Kinnuen và Nylander [25] Trong thời gian qua, nhiều tai nạn thảm khốc đã xảy ra do dạng phá hoại nén thủng tại liên kết sàn phẳng – cột BTCT (Hình 1.12: Sự sụp đổ của cao ốc Sampoong-Hàn Quốc do phá hoại nén thủng [16] Hình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận án về ứng xử kháng chọc thủng của liên kết cột ống thép và sàn bê tông cốt thép" tập trung vào việc nghiên cứu khả năng kháng chọc thủng của các cấu kiện trong xây dựng, đặc biệt là liên kết giữa cột ống thép và sàn bê tông cốt thép. Luận án này không chỉ cung cấp những kiến thức chuyên sâu về cơ học vật liệu và thiết kế kết cấu mà còn đưa ra các phương pháp phân tích và thử nghiệm hiện đại, giúp các kỹ sư và sinh viên ngành Kỹ thuật Xây dựng có cái nhìn rõ hơn về vấn đề này. Độc giả sẽ được trang bị những kiến thức quý giá để áp dụng vào thực tiễn, từ đó nâng cao chất lượng công trình xây dựng.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác trong lĩnh vực xây dựng, hãy tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Nâng cao chất lượng thiết kế công trình tại Công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng Lâm Đồng, nơi bạn có thể tìm hiểu về quản lý chất lượng trong thiết kế công trình. Bên cạnh đó, Nghiên cứu ứng dụng neo đất cho thi công hầm nhà cao tầng tại Hạ Long cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc về các phương pháp thi công hiện đại. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu chế tạo bê tông nhẹ cường độ cao sử dụng hạt vi cầu rỗng từ tro bay sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vật liệu xây dựng tiên tiến và ứng dụng của chúng trong các công trình hiện đại.