Chương I Trình bày tóm tắt cơ sở lý thuyết về đất có cốt, lý thuyết tính toán tường chắn đất ổn định cơ học và tổng quan những phương pháp nghiên cứu đã thực hiện. Chương II Trình bày về phương pháp tính toán tường MSE, trong đó trình bày tóm tắt về phương pháp cân bằng giới hạn và chi tiết của phương pháp Bishop trong phân tích ổn định. Phương pháp phần tử hữu hạn và phương pháp “giảm Phi- C” trong tính toán ổn định cũng được trình bày ở đây. Hai chương trình Slope/W và Plaxis được mô tả như là những công cụ chính để phân tích bài toán.
Ngoài ra, mô hình đất Mohr-Coulomb cũng được giới thiệu là mô hình được sử dụng trong phân tích bài toán. ~8~ Chương III Trình bày những phân tích ứng xử của tường MSE. Một loạt các trường hợp được phân tích để chỉ ra cơ chế phá hoại của tường MSE như một hàm của khoảng cách cốt, có xem xét đến ảnh hưởng của độ cứng của cốt và độ cứng của nền móng. Phân tích bằng phương pháp PTHH cũng xem xét ảnh hưởng của chiều dài cốt đến nội lực của cốt và ổn định của tường.
Ngoài ra, chương này cũng trình bày sự so sánh những dự đoán của chương trình Plaxis với những tính toán được thực hiện theo tiêu chuẩn AASHTO98, dựa trên phương pháp cân bằng giới hạn. Phần kết luận và kiến nghị Trình bày những kết luận rút ra từ những kết quả phân tích ở trên và đưa ra những kiến nghị cũng như những hướng nghiên cứu tiếp theo. ~9~ CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT TÍNH TOÁN TƯỜNG CHẮN ĐẤT ỔN ĐỊNH CƠ HỌC 1.1 Giới thiệu: Chương này trình bày những nguyên tắc chung về nguyên lý đất có cốt, nó chi phối ứng xử của kết cấu đất có cốt và phát triển hệ thống những thống số thiết kế trong tường MSE; và trình bày chi tiết những hướng dẫn chung đơn giản và tổng quát cho tất cả hệ thống tường MSE. Nó được giới hạn đối với tường có mặt thẳng đứng và chiều dài cốt phân bố đều.
Chương này được sắp xếp theo thứ tự như sau: - Nguyên lý của đất có cốt về mặt cơ học - Tổng quan về phương pháp tính toán - Ổn định bên trong - Ổn định bên ngoài 1.2 Nguyên lý đất có cốt về mặt cơ học: 1.1 Sự phá hoại của đất khi không có cốt: Đất là một vật liệu rời, khi chịu ngoại lực tác dụng thì đất sẽ ổn định (không bị phá hoại cắt trượt) nếu trạng thái ứng suất ở bất kỳ điểm nào và theo hướng nào cũng nằm dưới đường bao phá hoại của các vòng tròn Mohr (hình 2. Theo vòng tròn Mohr ta có thể diễn giải các điều kiện khi đất ở vào trạng thái cân bằng giới hạn như sau: - Khi 3 < 1: 3 1. K p [ Dương Học Hải (Thiết kế và thi công tường chắn đất có cốt, 2004, tr.2) các ký hiệu có ý nghĩa như sau: , : ứng suất cắt và ứng suất pháp tại điểm đang xét theo hướng đang xét : Góc nội ma sát của đất c: Lực dính của đất 1, 3: ứng suất chính theo phương thẳng đứng và phương nằm ngang tại điểm đang xét K0, Ka, Kp: lần lượt là hệ số áp lực đất ở trạng thái tĩnh, hệ số áp lực đất chủ động và hệ số áp lực đất bị động Hình 2.1 Trạng thái ứng suất ở một điểm trong đất và đường bao phá hoại của vòng Mohr [Dương Học Hải (Thiết kế và thi công tường chắn đất có cốt, 2004, tr.1), với một loại đất có c, đã biết, trị số 1 do ngoại lực gây ra càng lớn mà lúc đó 3 không đủ lớn thì đất sẽ bị phá hoại. Trong trường hợp có tường, ~ 11 ~ nếu áp lực hông dần dần giảm đi (tựa như lúc thân tường chống đỡ dịch chuyển ra phía ngoài) thì khi 3 giảm đến 3= OC , khối đất sẽ đạt đến trạng thái cân bằng giới hạn dẻo và bị phá hoại.
Do vậy đất là vật liệu không chịu được nén thuần tuý (khi 3 =0), không thể dùng làm vật liệu xây dựng các công trình chịu nén lớn nếu lực dính c có hạn và nếu không có biện pháp điều chỉnh trạng thái ứng suất (làm tăng áp lực nở hông 3). Ngược lại, theo (2.2), nếu 3 càng lớn so với 1 thì đất cũng sẽ bị phá hoại. Trong trường hợp có tường, nếu áp lực hông 3 dần dần tăng lên (tựa như lúc chân tường chống đỡ dịch chuyển vào trong) thì khi đạt đến 3 = OD khối đất cũng bị phá hoại. Chính vì vậy ứng suất nhỏ nhất 3 ở (2.1) gọi là ứng suất (áp lực) chủ động với Ka là hệ số áp lực đất chủ động và 3 ở tình huống (2.2) gọi là ứng suất (áp lực) bị động với Kp là hệ số áp lực đất bị động.
K p thì đất chưa đạt tới trạng thái cân bằng giới hạn và lúc này 3 nằm giữa áp lực đất chủ động và áp lực đất bị động, đất không dịch chuyển và ở trạng thái tĩnh với hệ số áp lực đất ở trạng thái tĩnh K0 (Ka< K0< Kp).2 Vai trò của cốt trong đất: Vai trò của cốt chính là nhằm tạo ra áp lực hông 3 ngay từ bên trong khối đất có bố trí cốt (3 không phải do ngoại lực gây ra). Điều này cũng tương đương với việc tạo ra được lực dính c lớn hơn bên trong khối đất. Xét một khối đất có những lớp cốt nằm ngang bố trí đủ gần nhau như hình 2.2 Vai trò của cốt là hạn chế nở ngang khi chịu lực tác dụng thẳng đứng Khi khối đất chịu nén theo phương thẳng đứng với áp lực 1, nếu không có cốt (3 = 0) đất sẽ bị phá hoại vì nở hông tự do. Nhưng khi có bố trí cốt (khối đất bị kẹp giữa 2 lớp cốt) và giả thiết giữa cốt và đất có đủ sức neo bám cần thiết (tức là đất và cốt bám chặt cùng chuyển vị với nhau) thì khi chịu nén, đất chỉ có thể chuyển vị ngang trong phạm vi chuyển vị ngang của cốt.
Vì môdul vật liệu cốt cao hơn rất ~ 12 ~ nhiều so với môdul biến dạng của đất nên trị số biến dạng ngang n của khối đất hầu như không đáng kể (n = 0) và do đó đất bị xem như chịu nén 3 trục có hạn chế nở hông với trị số áp lực nở hông 3: 3 = K.3) Trong đó: K: hệ số áp lực của đất, nếu ở trạng thái tĩnh (n = 0) thì K = K0 với K0 là hệ số áp lực đất ở trạng thái tĩnh. Theo Jaky(1944), K0 =1-sin. [Dương Học Hải (Thiết kế và thi công tường chắn đất có cốt, 2004, tr.13)] Áp lực nở hông 3 chính là do cốt tác dụng vào đất thông qua lực ma sát giữa đất và cốt. Khối đất sẽ ổn định nếu 3 không vượt quá sức chịu kéo của cốt làm cốt đứt hoặc không vượt quá sức neo bám giữa đất và cốt làm cốt bị tuột khỏi khối đất hoặc không vượt quá áp lực đất bị động làm đất bị phá hoại.
Như vậy, trị số 3 do cốt đặt trong đất tạo ra bị hạn chế bởi sức chịu kéo đứt của bản thân cốt, bởi sức chống kéo tuột cốt (phụ thuộc vào khả năng neo bám giữa đất và cốt) và bởi sức chống cắt trượt của đất. Bây giờ thử cho khối đất ở hình (2.2) chịu lực ngang thì rõ ràng trong trường hợp này cốt không có tác dụng hạn chế nở hông nữa và nếu muốn khối đất được ổn định thì lại phải bố trí các lớp cốt theo phương thẳng đứng. Chính vì vậy mà vật liệu đất có cốt là loại có tính dị hướng. Để thấy rõ thêm vai trò của cốt ta phân tích thêm trường hợp một khối đất có khả năng bị trượt theo một mặt nào đó như ở hình 2.3 Vai trò của cốt trong một khối đất có khả năng xảy ra trượt trên một mặt trượt S Trên hình 2.
mặt trượt S chia khối đất thành 2 phần A và B. Giả sử trên 1 diện tích dS nào đó của mặt trượt S, mảnh trượt A tác dụng lên mảnh trượt B một lực R 1. Nếu R1 làm với pháp tuyến của dS một góc lớn hơn góc nội ma sát của đất thì tại đó sẻ xảy ra chuyển vị trượt. Để bảo đảm ổn định của cả khối đất thì phải bố trí cốt sao cho lực kéo của cốt F (do sức neo bám giữa cốt và đất tạo ra) hợp với R 1 thành một lực R2 (hình 2.3) có phương của R2 làm với pháp tuyến qua dS một góc nhỏ hơn .
Nếu trên toàn mặt trượt S đều bố trí cốt sao cho đảm bảo điều kiện nói trên thì 2 mảnh A và B sẽ gắn liền với nhau và khả năng trượt giữa chúng sẽ không xảy ra. Đây chính là nguyên lý cơ bản của đất có cốt. [Dương Học Hải (Thiết kế và thi công tường chắn đất có cốt, 2004, tr. Sự neo bám giữa cốt và đất: Như trên đã thấy, phải có đủ sức neo bám giữa đất và cốt thì mới có thể tạo ra áp lực hông 3 ngay từ bên trong khối đất có cốt, tức là tạo ra được sự truyền sức chịu kéo của cốt cho đất (giống như sự truyền sức chịu kéo của cốt thép cho bêtông).
Việc truyền lực giữa cốt và đất hay sự tạo ra sức neo bám giữa cốt và đất phụ thuộc vào cấu tạo hình dạng cốt và có 2 phương thức cơ bản là phương thức truyền lực thông qua ma sát giữa chúng và phương thức truyền thông qua sức cản bị động ~ 14 ~ của đất. Đối với các loại cốt như cốt dạng đai mỏng, cốt dạng tấm, cốt dạng khung (2.4), dạng lưới, dạng mạng (như lưới hoặc mạng polime địa kỹ thuật - geogrid), tất cả đều truyền lực thông qua ma sát. Nhưng chỉ những loại cốt dạng khung, dạng lưới, dạng mạng là các loại cốt có các phần tử cốt vuông góc với phương truyền lực kéo thì mới có thêm phương thức truyền lực thông qua sức cản bị động của đất (tức là mới co hiệu ứng neo), hình 2.4 Cốt dạng lưới thép tròn tạo ra sức cản bị động của đất nhờ có các thanh cốt bố trí vuông góc với phương truyền lực Pp. Cơ cấu truyền lực thông qua ma sát giữa cốt và đất được miêu tả ở hình 2.5 Cơ cấu truyền lực thông qua ma sát giữa cốt và đất Phân tích sự cân bằng của một đoạn nhỏ đất có cốt dl với bề rộng b, ta có thể thấy lực truyền qua dl sẽ là: dT = T2 - T1 = 2bdl.