CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TƯỜNG CHẮN ĐẤT CÓ CỐT 1. Sự ra đời của đất có cốt và các công trình bằng đất có cốt Từ lâu đời, đất được sử dụng như một loại vật liệu xây dựng. So với các loại vật liệu khác, đất rẻ tiền, sẵn có nhưng lại có các đặc trưng cơ học kém, đặc biệt là không chịu được lực kéo. Chính những nhược điểm trên, từ thời rất xa xưa, con người đã biết khắc phục bằng cách cho rơm vào đất sét để nâng cao chất lượng của gạch không nung.
Ở những vùng đầm lầy, đường được thi công trên móng là thân cây, cành cây. Đất được ổn định cơ học (Mechanically Stabilized Earth-MSE) là đất được gia cường bằng các vật liệu chất dẻo, thép hay các vật liệu tự nhiên. Phần cốt này có khả năng chịu kéo cao, kết hợp hiệu quả với đất chịu nén tốt sẽ hình thành một vật liệu tổng hợp nửa cứng bền vững. Cho đến nay, khái niệm về đất có cốt và những ứng dụng của nó trong các công trình xây dựng đã trở lên quen thuộc.
HenrI Vidal, một kĩ sư cầu đường người Pháp, là người đầu tiên chính thức hợp lý hóa việc thiết kế đất gia cố hiện đại trong công trình. Từ năm 1963, Henry Vidal đã đề xuất ý tưởng dùng đất có cốt để xây dựng công trình. Ngày 07/03/1996, ông đã báo cáo trước Hội đồng Cơ học đất và Nền móng nước Pháp và sau đó đã được cấp bằng sáng chế gọi là: “đất được gia cố” (“reinforced earth”). Trong đó, cốt là dải (hay thanh) kim loại thép không rỉ được đặt trong đất đắp có chất lượng cao là cát và cuội.
Cốt dải thường dùng với vật liệu có chất lượng tương đối cao, giá thành cao như cát và cuội sạch để có thể tạo ra sức cản ma sát cần thiết giữa đất đắp và cốt. Khi cần, có thể chuyển sang sử dụng cốt lưới vì nó có sức chống kéo lớn hơn. Hơn nữa, có thể dùng loại đất đắp ma sát – dính ở địa phương có chất lượng thấp và rẻ tiền. Lưới thép được dùng đầu tiên ở California, Mỹ.
Dạng khác của cốt lưới do Bill Hilfiker, một kỹ sư người Mỹ đã sáng chế vào cuối năm 1970 (Peterson và Anderson, 1980) là lưới dây hàn tạo bởi các dây thép hay thanh thép không rỉ được hàn lại với nhau. Sau đó, với việc chế tạo chất dẻo bền vững như Tensar và 6 Tenax có độ cứng chịu giãn cao và chống được ăn mòn, đã làm cho việc sử dụng cốt lưới với đất đắp ma sát – dính phát triển. Gần đây, nhờ sử dụng vải địa cơ bằng chất dẻo (polymer geotextile), bao gồm các vải dệt cũng như không dệt đã làm cho công trình đất được ổn định cơ học càng trở lên phổ biến.1: Sơ đồ tường chắn có cốt bằng cốt dải Hình 1.2: Sơ đồ tường chắn có cốt bằng lưới thép 7 Hình 1.3: Lưới bằng chất dẻo của Tensar Đất có cốt là một loại vật liệu tổ hợp, thực chất vẫn dùng đất thiên nhiên để xây dựng công trình nhưng trong đất có bố trí các lớp cốt bằng vật liệu chịu được lực kéo theo các hướng nhất định. Thông qua sức neo bám (do ma sát, dính và neo bám) giữa đất với vật liệu cốt, vật liệu tổ hợp đất có cốt này có khả năng chịu kéo (giống như vật liệu bê tông cốt thép có khả năng chịu kéo, trong đó bản thân bê tông chịu kéo kém).
Tường chắn bằng đất có cốt đầu tiên được xây dựng thử nghiệm là tường Incarville trên đường cao tốc A13 ở Pháp. Tường này cao 10m, rộng 10m, dài 50m được xây dựng vào năm 1967. Kết quả quan trắc ứng suất và biến dạng của cốt, của vỏ (thông qua các đầu đo được bố trí sẵn trong quá trình thi công) và kết quả thí nghiệm khá công phu trên các mô hình tại Phòng thí nghiệm trung ương về Cầu và Đường (LCPC) của Pháp với sự lãnh đạo của H. Vidal đã cho phép ngay từ những năm đó thiết lập được các nguyên tắc về phương pháp thiết kế cấu tạo và tính toán kết cấu tường chắn bằng đất có cốt.
8 Tiếp đó, một loạt công trình đất có cốt được xây dựng trên các đường ô tô, bến cảng ở Pháp, Tây Ban Nha, Đức và một số nước khác. Đáng kể nhất là những tường chắn bằng đất có cốt (tổng cộng tới 800m dài) trên đường cao tốc A53 qua vùng Menton (Pháp). Tại đây sườn núi dốc, địa chất không ổn định, không thể đào sâu và khó làm cầu vượt nên đã chọn phương án đắp cao với tường chắn tới 20m. Với t3ường chắn cao như vậy, nếu dùng tường chắn bê tông cốt thép sẽ rất khó giải quyết vấn đề nền móng, do vậy đã chọn kết cấu tường bằng đất có cốt là loại tường bằng vật liệu mềm cho phép có những biến dạng lớn mà không phá hoại đột ngột trong khi vẫn giữ được ổn định chung của công trình.
Cũng ngay từ những năm (1966-1969) mới ra đời, ở nhiều đường cao tốc của Pháp đã xây dựng các tường chắn đất có cốt để làm nền đường tách đôi 2 chiều xe chạy với 2 bậc cao thấp khác nhau, hoặc làm những đường đắp cao trên đoạn dẫn lên các cầu vượt ở những chỗ giao khác mức trong đô thị (để hạn chế giải phóng mặt bằng do không phải đắp mái taluy) và đặc biệt là để xây dựng cả những tường kè cảng như tường kè bến cảng Montreal (Canada), ụ tàu ở Strasbourg, tường cảng ở Boulogne, La Grand Motte (Pháp). Sở dĩ vừa ra đời mà vật liệu đất có cốt đã được ứng dụng rộng rãi vì nó góp phần tạo ra được những ưu thế trong lĩnh vực xây dựng công trình: - Nhờ đất có cốt mà các công trình đắp bằng đất không cần đắp có mái dốc, tức là có thể đắp với mái dốc thẳng đứng (taluy 1:0) với những chiều cao đắp lớn (năm 1972, ở Pakistan đã xây dựng một công trình tường chắn đất có cốt vách thẳng đứng cao 40m). Cũng với đất có cốt người ta đã xây dựng các mố cầu bằng đất đắp, là kết cấu chịu nén lệch tâm (như mố cầu Thionville ở Pháp cao 12,0m, chịu tải từ gối cầu truyền xuống tới 750 tấn và độ lún định trước 20cm). Dĩ nhiên là công trình đắp thẳng đứng bằng đất có cốt phải cấu tạo có mặt tường bao (không chịu lực) để giữ cho đất đắp không bị lở, không bị xâm thực do các tác nhân môi trường bên ngoài.
Bên cạnh đó: + Đất có cốt là loại vật liệu mềm, do vậy cho phép vẫn đảm bảo được ổn định của công trình dù khi xảy ra biến dạng lớn. + Đất có cốt là loại vật liệu nặng, công trình bằng đất có cốt có kích thước lớn đáp ứng được yêu cầu đối với những công trình đòi hỏi phải có trọng 9 lượng lớn để chịu đựng lực ngang lớn, chịu lực va chạm lớn hoặc áp lực sóng nổ lớn… Chú ý rằng, trên quan điểm kiến trúc, nhiều khi cũng cần xây dựng các công trình hoành tráng có kích thước lớn, tường dày. Trong các trường hợp đó, nếu dùng vật liệu bê tông hoặc khối đá xây thì rất tốn kém và lúc này tường đất có cốt có thể thích hợp cả về kinh tế, kỹ thuật, nhất là có thể tùy nghi sáng tạo các kiểu mặt tường bao để đạt yêu cầu về trang trí kiến trúc, tạo hình (như xây dựng các tường thành hoặc đài kỷ niệm). Vì là vật liệu nặng với các khả năng chịu đựng được các tác động nói trên nên đất có cốt cũng được nghiên cứu ứng dụng để xây dựng công trình quốc phòng và cả các công trình ở vùng động đất (hầm chống bom, ụ chiến hào, pháo đài…).
- Công trình bằng đất có cốt thi công đơn giản và nhanh, cốt và các tấm hoặc vỏ mặt tường bao đều có thể gia công trước tại nhà máy rồi đưa ra hiện trường lắp đặt tiện lợi ngay trong quá trình đắp đất (lắp đặt đến đâu đắp đến đó,…). Tuy nhiên, ngay từ những năm phát triển đầu tiên người ta cũng đã nhận thấy những nhược điểm của loại vật liệu mới này để tìm cách khắc phục: - Nếu dùng vật liệu kim loại làm cốt và vỏ mặt tường thì gặp vấn đề về biện pháp chống gỉ: phải dùng thép không gỉ hoặc thép mạ; còn nếu dùng thép thường thì phải tăng kích thước cốt thép vỏ để dự trữ phòng gỉ. - Nếu cốt và vỏ mặt tường bằng vật liệu chất dẻo tổng hợp (vải hoặc lưới địa kỹ thuật thì cần phải có biện pháp chống lão hóa cho chúng. Một cách khác để khắc phục là sử dụng vỏ mặt tường bao bằng các tấm bê tông lắp ghép cũng đã xuất hiện trên thực tế ngay từ đầu những năm 70 của thế kỷ XX và vẫn được tiếp tục sử dụng cho đến nay.
- Để đảm bảo có sức neo bám giữa cốt với đất thì đất dùng để đắp cũng phải đạt được các yêu cầu nhất định về thành phần hạt (thường yêu cầu là đất rời, đất rời ít dính), về tính chất hiện đại hóa (để giảm tác dạng xâm thực đối với cốt kim loại hoặc cốt bằng chất dẻo tổng hợp). Mặt khác bản thân cốt cũng phải được chế tạo và cải tiến cấu tạo để tăng cường được sức neo bám với đất nhằm phát huy hiệu quả của cốt. Sức neo bám giữa đất và cốt cũng sẽ giảm đi khi nước xâm nhập được vào 10 đất, do vậy đối với những công trình đất có cốt cần phải giải quyết tốt vấn đề thước nước. Các thành phần chính của tường chắn đất có cốt Tường chắn đất có cốt bao gồm 3 thành phần kết cấu chính sau: 1.
Đất đắp chọn lọc Đất đắp chọn lọc hay đất gia cố yêu cầu cần phải có độ bền cao, thoát nước tốt, dễ dàng thi công, đặc biệt có sự kết hợp tốt với hệ thống cốt. Hầu hết các loại tường chắn có cốt đều yêu cầu vật liệu đất đắp có góc ma sát lớn, do tường chắn ổn định dựa vào sức ma sát giữa đất đắp và cốt, do đó đất đắp có hàm lượng sét ít. Nếu hàm lượng và khả năng chịu lực của hệ thống cốt cao thì đất đắp có thể có chất lượng thấp đi. Tuy nhiên, đất đắp với cốt liệu có chất lượng cao như cát cuội thì sẽ thuận lợi cho việc thoát nước, do đó làm tăng tuổi thọ của cốt cũng như sử dụng ít cốt hơn.
Cát cuội cũng dễ dàng xử lý, dễ thay thế và đầm nén. Điều này đảy mạnh cho việc thay thế và duy tu tường chắn có cốt.4: Thành phần chính của tường chắn có cốt Do đó đất đắp có thể là đất rời hay đất dính.