Chương 1: Tổng quan về bê tông đầm lăn trong xây dựng mặt đường ô tô Chương 2: Cơ sở lý thuyết, vật liệu chế tạo và phương pháp thiết kế bê tông đầm lăn Chương 3: Nghiên cứu thực nghiệm và khả năng sử dụng dùng vật liệu địa phương cho bê tông đầm lăn trong xây dựng đường giao thông nông thôn ở Bến Tre. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG ĐẦM LĂN TRONG XÂY DỰNG MẶT ĐƢỜNG Ô TÔ 1.1 Tình hình phát triển kinh tế xã hội ở Bến Tre 1.1 Điều kiện tự nhiên 1.1 Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý: Bến Tre là tỉnh thuộc vùng đồng bằng song Cửu Long, có diện tích tự nhiên là 2.360 Km2, đƣợc hợp thành bới cù lao An Hóa, cù lao Bảo, cù lao Minh và do phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long bồi tụ thành (sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên). Bến Tre cách thành phố Hồ Chí Minh 86 km, cách thành phố Cần Thơ 120 km, phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang, phía Tây và phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh, phía Đông giáp biển Đông.2 Tài nguyên thiên nhiên: Bến Tre là tỉnh có nguồn tài nguyên đất phong phú, với nhiều tài nguyên đất phong phú, với nhiều loại đất nhƣ: đất cát, đất phù sa, đất phèn, đất mặn. Sản xuất nông nghiệp của tỉnh ngày càng mở rộng, nhu cầu thâm canh, tăng vụ ngày càng đƣợc chú trọng.
Hơn 20 năm qua, bằng những nổ lực của mình nhân dân Bến Tre cũng nhƣ cả vùng đồng bằng Nam Bộ đã tiến hành nhiều công trình tháo chua rửa mặn, cải tạo đất đai nhằm khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên đất có hiệu quả hơn. Tỉnh Bến Tre có 4 con sông lớn chảy qua là: Mỹ Tho, Ba Lai, Hàm Luông và Cổ Chiên. Những con sông này giũ một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, văn hóa của nhân dân trong tỉnh nhƣ: cung cấp nƣớc ngọt cho sinh hoạt và nông nghiệp, góp phần làm tƣơi đẹp cảnh quan, điều hòa khí hậu. Hệ thống sông, rạch trong tỉnh còn là điều kiện thuận lợi cho Bến Tre phát triển mạng lƣới giao thông đƣờng thủy và thủy lợi.2 Cơ sở hạ tầng Giao thông đƣờng bộ: hệ thống giao thông đƣờng bộ của tỉnh có vị trí đặc biệt trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Thành phố Bến Tre nối liền thành phố Hồ Chí Minh (qua Tiền Giang, Long An) dài 86 km. Quốc lộ 60 nối liền các tỉnh phía Tây đang đƣợc đầu tƣ nâng cấp, cầu Rạch Miễu đã khánh thành và đƣa 5 vào sử dụng, rút ngắn đáng kể thời gian đến Bến Tre bằng đƣờng bộ. Cầu Hàm Luông hoàn thành nối liền cù lao Bảo và cù lao Minh, cầu Cổ Chiên nối Bến Tre với Trà Vinh đang đƣợc xây dựng khi hoàn thành sẽ là động lực phát triển kinh tế của địa phƣơng, gắn kết kinh tế của tỉnh với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, để tiềm năng kinh tế - văn hóa – xã hội của Bến Tre đƣợc khơi dậy và phát triển mạnh mẽ. Giao thông đƣờng thủy: Bến tre là tỉnh có hệ thống sông ngòi khá phát triển, với 4 con sông lớn chảy qua.
Các con sông có một vị trí quan trọng trong hệ thống giao thông đƣờng thủy không chỉ của tỉnh mà còn của cả khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài ra, mạng lƣới kênh rạch chằng chịt nối liền nhau đã tạo thành một mạng lƣới giao thông và thủy lợi rất thuận tiện.3 Kế hoạch phát triển hệ thống đường bộ đường giao thông nông thôn giai đoạn 2016 – 2020 Nâng cấp, cải tạo, xây dựng mới đạt chuẩn theo quy định của Bộ Giao thông vận tải; từng bƣớc bố trí các nguồn vốn để bảo trì hệ thống đƣờng GTNT: 100% đƣờng huyện và tối thiểu 50% đƣờng xã đƣợc bảo trì. Trong giai đoạn này, dự kiến sẽ đầu tƣ xây dựng: 1.156,9km đƣờng với kinh phí khoảng 1.141 tỷ đồng; 789 cây cầu với kinh phí khoảng 145 tỷ đồng; 110 cái cống với kinh phí khoảng 2,9 tỷ đồng. Đƣờng xã: Dự kiến đầu tƣ xây dựng: 412,4km đƣờng với kinh phí khoảng 644,8 tỷ đồng; 226 cây cầu với kinh phí khoảng 83,9 tỷ đồng; 40 cái cống với kinh phí khoảng 1,4 tỷ đồng.
Đƣờng xóm, ấp: Dự kiến đầu tƣ xây dựng: 744,4km đƣờng với kinh phí khoảng 495,7 tỷ đồng; 563 cây cầu với kinh phí khoảng 60,9 tỷ đồng; 70 cái cống với kinh phí khoảng 1,5 tỷ đồng.2 Giới thiệu Bê tông đầm lăn 1.1 Khái niệm Bê tông đầm lăn (BTĐL) là loại bê tông không có độ sụt, đƣợc đầm chặt bằng phƣơng pháp lu và có thể thi công tƣơng tự nhƣ thi công đƣờng giao thông bằng bê tông nhựa.2 Phạm vi ứng dụng Các nhà vật liệu xây dựng qua nghiên cứu nhận thấy rằng lƣợng nƣớc (N) yêu cầu để đảm bảo quá trình thuỷ hoá xi măng (X) trong khối bê tông là thấp hơn nhiều so với lƣợng nƣớc đƣợc trộn vào hổn hợp bê tông truyền thống. Mặt khác qua nghiên cứu lí luận về cƣờng độ bê tông phát hiện ra rằng cƣờng độ bê tông Rb tỷ lệ thuận với tỷ lệ N/X (Rb=F(N/X)). Vậy nếu giảm lƣợng nƣớc trộn thì có thể giảm đƣợc lƣợng xi măng của hỗn hợp mà cƣờng độ bê tông vẫn không thay đổi. Do giảm lƣợng nƣớc trộn nên bê tông khô nhƣ đất, muốn đầm phải sử dụng máy đầm rung thay vì đầm dùi nhƣ bê tông truyền thống.
Công nghệ này thích hợp cho các công trình bê tông khối tích lớn, hình dáng không phức tạp nhƣ đập, mặt đƣờng. Việc đầm lèn bê tông bằng lu rung cho phép sử dụng hỗn hợp bê tông khô, ít chất kết dính hơn so với bê tông thƣờng nhờ vậy đối với một số đập và đƣờng bê tông, thi công bằng công nghệ này nhanh hơn và rẻ hơn so với dùng công nghệ đổ bê tông truyền thống. Công nghệ BTĐL thƣờng đƣợc áp dụng thích hợp cho thi công đập bê tông trọng lực và mặt đƣờng, sân bãi.3 So sánh ưu nhược điểm với bê tông xi măng truyền thống o Ƣu điểm: - Ƣu điểm nổi bật của Bê tông đầm lăn là giảm đƣợc số lƣợng xi măng đáng kể trong 1 m3 bê tông so với Bê tông truyền thống, do vậy giảm đƣợc nhiệt phát sinh trong khối bê tông là nguyên nhân chính gây ra nứt nẻ bê tông. - Bê tông đầm lăn thi công nhanh hơn, giảm đƣợc thời gian xây dựng so với bê tông truyền thống (So sánh trong cùng điều kiện công trình xây dựng và hoàn tất công tác chuẩn bị) - Có thể thi công liên tục nếu thiết kế khoảnh đổ và tổ chức thi công hợp lý.
- Giảm giá thành công trình so với bê tông truyền thống (có thể từ 15%- 20%) o Nhƣợc điểm: 7 - Do bê tông khô, ít xi măng, dễ bị phân ly vật liệu vữa Bê tông đầm lăn khi vận chuyển, đổ, san, ủi, đầm nén, dẫn đến chất lƣợng bê tông không đồng đều, thậm chí có thể giảm không đạt cƣờng độ thiết kế. - Phụ thuộc nhiều vào thời tiết, nền nhiệt độ nơi đổ bê tông. - Thời gian ninh kết đạt cƣờng độ thiết kế khá lâu. - Phụ thuộc vào trạm trộn và nguồn cung cấp phụ gia tro bay.3 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng Bê tông đầm lăn trên thế giới và ở Việt Nam: 1.1 Trên thế giới BTĐL ra đời vào khoảng năm 1961, đƣợc đánh dấu bằng sự kiện xây dựng đê quây của đập Thạch Môn ở Đài Loan – Trung Quốc, năm 1961-1964 đập Alpa Gera ở Ý, công nghệ BTĐL sau hơn nửa thế kỷ đã trở nên phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới nhƣ Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc.
Trong những năm từ 1960 đến 1980 các công trình nghiên cứu và ứng dụng BTĐL để làm đập bê tông trọng lực tại Canada, Mỹ, Anh, Nhật Bản.Năm 1989, Trung Quốc là nƣớc đầu tiên trên thế giới xây dựng thành công đập trọng lực Thiên Sinh Kiều, cao 61 m, hoàn toàn bằng bê tông đầm lăn. Tính đến 2004, Trung Quốc có hơn 10 đập bê tông mới kiểu này.1 : Đập Willow Creek – Một trong những đập xây dựng bằng BTĐL Công nghệ BTĐL chủ yếu đƣợc áp dụng trong thi công xây dựng các đập thủy điện và đê chắn nƣớc. Sau hơn 50 năm ứng dụng trên thế giới, công nghệ xây dựng đập bê tông đƣợc cải tiến liên tục cả về vật liệu chế tạo và kỹ thuật thi công. 8 Cho tới nay, đập BTĐL đƣợc thi công xây dựng ở nhiều nƣớc trên thế giới, ở nơi có nhiệt độ môi trƣờng từ rất thấp cho đến rất cao và có thể trong cả những vùng thƣờng xuyên có mƣa lớn.
Theo thống kê tại hội nghị công nghệ về đập BTĐL đƣợc EVN tổ chức tại Hà nội tháng 4/2007 [5]: Số lƣợng các đập BTĐL đã và đang thi công của các nƣớc trên thế giới tính đến năm 2006 là 352 đập (chƣa kể Việt Nam).1: Các nước có số lượng đập BTĐL >10 đập[5] Nƣớc Số lƣợng đập Trung Quốc 98 Nhật 45 Mỹ 39 Brazil 33 Tây Ban Nha 22 South Africa 14 Morocco 10 Australia 10 Ngoài việc áp dụng cho xây dựng đập, mặt đƣờng và sân bãi, bê tông đầm lăn còn đƣợc áp dụng đƣợc cho các dạng kết cấu khác. Năm 1986 cầu treo lớn nhất thế giới Akashi đƣợc khởi công xây dựng tại Nhật Bản. Cây cầu này nối liền đảo Honshu và đảo Shikoku với chiều dài nhịp giữa hai tháp chính 1960 m. Đây là công trình đã ứng dụng nhiều công nghệ bê tông tiên tiến nhƣ bê tông tự lèn, bê tông đổ trong nƣớc và bê tông đầm lăn.
Để thi công khối móng với khối tích khoảng 200.000 m3 trong thời gian ngắn, công nghệ bê tông đầm lăn đã đƣợc lựa chọn áp dụng. Bê tông đầm lăn đƣợc sử dụng làm đƣờng khoảng 80 năm nay, đƣợc ứng dụng làm đƣờng ở Thụy Điển vào đầu năm 1930, xây dựng đƣờng băng ở Washington (Mỹ) năm 1942, xây dựng các đƣờng và bãi đổ ở Canada những năm 1970. BTĐL có ƣu điểm là thi công dễ dàng và nhanh chóng, có đủ độ bền cần thiết dƣới tác dụng của tải trọng và các thiết bị nặng. Bê tông đầm lăn cũng đã đƣợc áp dụng để xây dựng mặt đƣờng ô tô trong khu công nghiệp sản xuất ô tô ở Alabama (Mỹ).
Cho đến năm 2004, khi xây dựng lại tuyến đƣờng liên bang ở bang Georgia - Mỹ số hiệu I-285 xung quanh thành phố Atlanta, The Georgia Department of Transportation đã áp dụng công nghệ xây dựng mặt đƣờng bằng 9 BTĐL cho phần lề gia cố (làn đỗ khẩn cấp) thay thế cho cách làm truyền thống và đã tạo đƣợc tiếng vang lớn. Đó là huy chƣơng bạc của The National Partnership for Highway Quality vào năm 2006.