CHƯƠNG 1.1 Tiềm năng khí thiên nhiên của Việt Nam Việt Nam bắt đầu khai thác khí thiên nhiên từ năm 1981 (mỏ khí Tiền Hải C – Thái Bình) và khai thác dầu cùng với khí đồng hành từ năm 1986 (tại mỏ Bạch Hổ ở thềm lục địa phía Nam). Sau khi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành vào năm 1987, công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí được triển khai mạnh mẽ tại các bể trầm tích ở Việt Nam. Nhiều nhà thầu nước ngoài đã tìm thấy các phát hiện dầu – khí như Total ở vịnh Bắc Bộ, Shell ở biển Miền Trung, … Tiềm năng về khí thiên nhiên nói chung và khí đồng hành nói riêng ngày càng được chứng minh đã đặt ra cho ngành Dầu khí Việt Nam nói riêng và cả hệ thống nói chung nhiệm vụ mới là khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên khí để phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước. Trước năm 1995, khí đồng hành khai thác cùng với dầu bị đốt bỏ trong một thời gian dài gây hậu quá không nhỏ về môi trường cũng như lãng phí nguồn tài nguyên lớn của quốc gia.
Việc khai thác và sử dụng khí đặc biệt là khí đồng hành đòi hỏi phải đầu tư tổng thể từ việc thu gom, hạ tầng kỹ thuật để vận chuyển khí đến thị trường tiêu thụ khí. Hơn nữa, hoạt động thu gom, xử lý và vận chuyển khí đòi hỏi phải có hệ thống liên kết chặt chẽ giữa các khâu từ giai đoạn phát triển khai thác khí đồng hành đến thu gom xử lý và vận chuyển khí đến hộ tiêu thụ. Ngoài các vấn đề về công nghệ, kỹ thuật thì giá khí và các điều khoản tài chính (thuế tài nguyên, thu hồi chi phí, tỷ lệ chia khí lãi,…) là các yếu tố quan trọng để khuyến khích nhà thầu thu gom và giảm thiểu đốt bỏ khí đồng hành. Cùng với việc đẩy mạnh công tác tìm kiếm thăm dò khai thác và đầu tư xây dựng các hệ thống đường ống dẫn khí, hoạt động phát triển khai thác và thu gom khí đồng hành ở Việt Nam từ năm 1995 đến nay đã phát triển nhanh chóng.
Trong số 27 mỏ dầu đang khai thác có 18 mỏ dầu (66,67%) đã thực hiện thu gom khí đồng hành và 09 mỏ dầu chưa thực hiện thu gom khí đồng hành (33,33%). Như vậy có thể thấy Việt Nam còn nhiều tiềm năng trong việc thu gom khí đồng hành và nếu không tận dụng hiệu quả nguồn khí đồng hành này thì vừa lãng phí tài nguyên quốc gia và vừa gây ô nhiễm môi trường do khí CH4 là một trong những tác nhân gây biến đổi khí hậu lớn. Ngoài nguồn khí đồng hành, các mỏ nhỏ, cận biên và xa bờ (gọi tắt là mỏ cận biên) là các mỏ có tiềm năng dầu khí nhưng chưa được thu gom vì gặp phải những khó khăn về Trang 3 kinh tế - kỹ thuật khi khai thác. Đối với các mỏ nhỏ và xa bờ, việc áp dụng công nghệ thu gom bằng đường ống truyền thống gặp nhiều khó khăn khi thi công và thường không đạt hiệu quả khi sử dụng.
Tại Việt Nam, đa số các mỏ khí đều là mỏ nhỏ có trữ lượng < 1 tcf nằm trong phạm vi dưới 500 km từ bờ biển. Các mỏ này nằm tập trung tại các khu bể trầm tích Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay – Thổ Chu và Sông Hồng. Đây được đánh giá là nguồn cung khí bổ sung quan trọng khi nhu cầu sử dụng khí thiên nhiên trong nước tăng cao. Do đó việc phát triển và áp dụng các công nghệ mới để sử dụng hiệu quả các nguồn khí từ các mỏ cận biên có vai trò quyết định đến việc phát triển được các nguồn dầu khí này.
Như vậy, với nguồn khí dồi dào, vấn đề chuyển hóa khí thiên nhiên thành khí tổng hợp không chỉ là để đáp ứng các mục tiêu dài hạn mà Việt Nam đã đề ra, còn phù hợp với xu thế của thế giới, biến đổi khí thiên nhiên thành các nguồn thương phẩm có giá trị cao hơn thông qua khí tổng hợp.2 Nhu cầu sử dụng nhiên liệu và xu hướng phát triển nhiên liệu sạch tại Việt Nam − Nhu cầu và xu hướng sử dụng nhiên liệu DO tại Việt Nam Nhu cầu DO trong nước đạt 9,3 triệu tấn vào năm 2020. Nhu cầu tiêu thụ nhiên liệu DO được thể hiện trong Hình 1. 18 16 14 12 Triệu tấn 10 8 6 4 2 0 2015 2016 2017 2018 2019 2020 2021 2022 2023 2024 2025 2026 2027 2028 2029 2030 2031 2032 2033 2034 2035 2036 2037 2038 2039 2040 Hình 1. Nhu cầu tiêu thụ DO giai đoạn 2015-2040 Nguồn: Số liệu hải quan, 2021 Trang 4 Dự báo nhu cầu tiêu thụ DO tại Việt Nam trong những năm tới tiếp tục có sự tăng trưởng ở mức gấp đôi so với hiện tại.
Nhu cầu DO được dự báo dựa theo giả định về phát triển dân số, giao thông vận tải và tốc độ phát triển ngành công nghiệp có xét đến xu hướng chuyển dịch năng lượng. Dự báo nhu cầu DO sẽ đạt khoảng 11 triệu tấn vào năm 2025 (tăng 3,1%/năm), sau đó tiếp tục tăng nhưng với tốc độ chậm hơn giai đoạn trước. Về tác động của chuyển dịch năng lượng toàn cầu, tốc độ chuyển dịch của DO đến từ thay thế bởi xe pin nhiên liệu chậm hơn so với xăng khoảng 5-10 năm. Trong giai đoạn tới, nhu cầu DO bị thay thế chủ yếu đến từ thay thế một phần bởi CNG và các cải thiện công nghệ, biện pháp sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nhiên liệu.
Xét về cơ cấu nhu cầu theo lĩnh vực, 77% DO trong nước tiêu thụ cho GTVT, 15% cho công nghiệp – chủ yếu phục vụ cho phát điện và phần còn lại cho dân dụng/thương mại. − Nguồn cung Hiện tại nguồn cung DO trong nước khoảng 6,6 triệu tấn/năm đáp ứng khoảng 60% đến 65% nhu cầu trong nước, trong đó nguồn cung trong nước được sản xuất tại NMLD Dung Quất (52%) và LHLHD Nghi Sơn (48%). Phần nhu cầu thiếu hụt được đáp ứng bằng nguồn nhập khẩu. Năm 2020, DO chủ yếu được nhập khẩu từ Malaysia 39%, Hàn Quốc 27%, Thái Lan 16%, Singapore 15%, phần còn lại là các nước khác.
Ngoài ra, trong lĩnh vực dầu khí, hiện nay các mỏ khí nhỏ, khí cận biên đang gặp vấn đề trong việc thu gom. Để sử dụng hiệu quả các nguồn khí mỏ nhỏ, cận biên, cách xa thị trường tiêu thụ, một số công nghệ thu gom không đường ống đã và đang được phát triển, ứng dụng để thu gom các nguồn khí này như công nghệ nén khí ngoài khơi (Floating compressed natural gas, FCNG), công nghệ hóa lỏng khí ngoài khơi (Floating liquefied natural gas, FLNG), công nghệ chuyển hóa khí thành nhiên liệu lỏng ngoài khơi (Floating Gas to Liquid, FGTL). Trong đó, công nghệ FGTL đang được nghiên cứu phát triển mạnh do có khả năng tạo ra các sản phẩm nhiên liệu sạch và các hóa chất có giá trị gia tăng cao như Methanol. Công nghệ GTL nổi (FGTL) về bản chất quá trình không khác gì so với công nghệ chuyển hóa khí thành nhiên liệu lỏng (GTL – Gas to Liquid).
Mục đích cuối cùng của cả hai quá trình là chuyển hóa khí thiên nhiên thành các sản phẩm lỏng có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, công nghệ FGTL đặt mục tiêu hướng Trang 5 đến việc chuyển hóa hiệu quả nguồn khí thiên nhiên tại các mỏ khí nhỏ, xa bờ thành các sản phẩm lỏng vừa có giá trị cao vừa có khả năng vận chuyển bằng các phương pháp truyền thống như tàu, đường ống. Có hai hướng chuyển hóa công nghệ chính bao gồm: (i) Chuyển hóa khí thành các loại nhiên liệu lỏng (GTL); (ii) Chuyển hóa khí thành hóa chất cơ bản (GTC). Công nghệ GTL cơ bản gồm ba quá trình chính: sản xuất khí tổng hợp, chuyển hóa khí tổng hợp thành sản phẩm lỏng, nâng cấp – phân tách hỗn hợp sản phẩm lỏng.
Quy trình công nghệ sơ bộ được thể hiện trong Hình 1. Các quá trình của công nghệ GTL cơ bản Tuy nhiên, để có thể tích hợp được công nghệ GTL với các tàu khai thác, chứa, xuất dầu ngoài khơi thì cần phải có sự đột phá về công nghệ và xúc tác do công nghệ GTL truyền thống chỉ hiệu quả với công suất lớn và kèm theo đó là diện tích mặt bằng lớn, vì vậy, không phù hợp để tích hợp với các phương tiện khai thác, lưu trữ và xuất dầu ngoài khơi (FPSO). Do đó, cần có sự cải tiến cả về công nghệ lẫn xúc tác để có thể tích hợp với FPSO, trong đó, xúc tác cần có hoạt tính và độ bền cao để có thể giảm kích thước các thiết bị phản ứng và các thiết bị phản ứng cần có kích thước nhỏ, có khả năng lắp ráp dưới dạng module để dễ dàng thay đổi công suất phù hợp với nhu cầu khai thác của từng đối tượng khác nhau.3 Công nghệ chuyển hóa khí thiên nhiên thành nhiên liệu sạch và các vấn đề cần giải quyết Công nghệ chuyển hóa khí thiên nhiên thành nhiên liệu sạch (GTL) truyền thống còn một số nhược điểm liên quan đến công nghệ và xúc tác như sau: Trang 6 − Về công nghệ: Công nghệ GTL truyền thống chỉ hiệu quả với công suất lớn và yêu cầu diện tích mặt bằng lớn để bố trí và lắp đặt. Do đó, việc tích hợp với các phương tiện khai thác, lưu trữ và xuất dầu ngoài khơi cần có chi phí đầu tư và vận hành lớn.
− Về xúc tác: Trạng thái pha vật lý trong thiết bị phản ứng F-T là rất phức tạp, bao gồm: pha khí (khí nguyên liệu, khí sản phẩm), pha lỏng (các hydrocarbon lỏng), nước và pha rắn (xúc tác). Do đó, để tăng hiệu quả vượt trội cho FTS, các quá trình truyền nhiệt và truyền khối cũng cần phải được xem xét: o Ví dụ, trong thiết bị phản ứng tầng xúc tác cố định, sự hạn chế về mặt khuếch tán gây ra sự điền đầy lỗ xốp xúc tác của các sản phẩm lỏng sau phản ứng. Điều này ngăn cản khả năng hấp phụ của CO lên các tâm kim loại hoạt động. Do đó, gây ra ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình tổng hợp F-T.
Để khắc phục các nhược điểm về truyền nhiệt và truyền khối, thiết bị phản ứng dạng slurry đã được ứng dụng. Tuy nhiên, việc tách sản phẩm dạng sáp từ FTS ra khỏi xúc tác và khả năng rửa trôi xúc tác kim loại vào dung dịch là những vấn đề phát sinh khi sử dụng thiết bị phản ứng dạng slurry. o Ngày nay, việc sử dụng vật liệu có cấu trúc cho các phản ứng hóa học đang ngày càng trở nên phổ biến.