CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. PIN NHIÊN LIỆU 1. Lịch sử hình thành Năm 1839 nhà khoa học tự nhiên người xứ Wales Sir William Robert Grove đã chế tạo ra mô hình thực nghiệm đầu tiên của tế bào nhiên liệu, bao gồm hai điện cực platin được bao trùm bởi hai ống hình trụ bằng thủy tinh, một ống chứa hiđrô và ống kia chứa ôxy. Hai điện cực được nhúng trong axít sulfuric loãng là chất điện phân tạo thành dòng điện một chiều.
Vì việc chế tạo các hệ thống tế bào nhiên liệu quá phức tạp và giá thành đắt, công nghệ này dừng lại ở đấy cho đến thập niên 1950 [1]. Thời gian này ngành du hành vũ trụ và kỹ thuật quân sự cần dùng một nguồn năng lượng nhỏ gọn và có năng suất cao. Các tàu du hành vũ trụ và tàu ngầm cần dùng năng lượng điện không thông qua động cơ đốt trong. NASA đã quyết định dùng cách sản xuất điện trực tiếp bằng phương pháp hóa học thông qua tế bào nhiên liệu trong các chương trình du hành vũ trụ Gemini và Apollo.
Các tế bào nhiên liệu sử dụng trong chương trình Gemini được NASA phát triển vào năm 1965. Với công suất khoảng 1 kW các tế bào nhiên liệu này đã cung cấp đồng thời điện và nước uống cho các phi hành gia vũ trụ. Các tế bào nhiên liệu của chương trình Gemini chỉ dài 60 cm và có đường kính là 20 cm. Nhờ chế tạo được các màng (membrane) có hiệu quả cao và các vật liệu có khả năng chống ăn mòn hóa học tốt hơn và cũng vì áp lực tìm kiếm một nguồn năng lượng thân thiện môi trường cho tương lai, mà pin nhiên liệu được phát triển mạnh vào đầu thập niên 1990.
Thông qua đó việc sử dụng tế bào nhiên liệu dành cho các mục đích dân sự đã trở thành hiện thực. Ngày nay khả năng sử dụng trải dài từ vận hành ô tô, sưởi nhà qua các nhà máy phát điện có công suất hằng 100 kW cho đến những ứng dụng như trong điện thoại di động hoặc máy vi tính xách tay [1]. Khái niệm pin nhiên liệu Pin nhiên liệu là một thiết bị tạo ra điện năng thông qua cơ chế phản ứng điện hóa (tương tự như ắc quy). Pin nhiên liệu có thể tạo ra dòng điện liên tục khi 4 có một nguồn nhiên liệu cung cấp đều đặn, trong khi ắc quy cần phải được nạp điện lại (sạc) sau một khoảng thời gian sử dụng.
Vì thế, pin nhiên liệu không chứa năng lượng bên trong, nó chuyển hóa trực tiếp nhiên liệu thành điện năng, trong khi ắc quy cần phải được nạp điện lại từ một nguồn bên ngoài. Pin nhiên liệu hoạt động liên tục khi nhiên liệu (hiđrô, hiđrôcacbon…) và chất ôxi hóa (ôxy) được đưa từ ngoài vào [2]. Cấu tạo pin nhiên liệu Cấu tạo đơn giản nhất của pin nhiên liệu là tế bào pin nhiên liệu bao gồm: cực âm anốt hay điện cực nhiên liệu (hiđrô, hiđrôcacbon, etanol hoặc khí thiên nhiên…); cực dương catốt hay điện cực ôxi hóa (ôxy hoặc không khí) và màng dẫn ion (O2- hoặc proton H+) hay electrolyte (chất điện ly). Hai điện cực anốt và catốt được ghép hai bên của màng electrolyte [8, 9].
Các vật liệu sử dụng làm anốt có thể kể đến như: Ni-YSZ, Ni-SDC, Cu- SDC. Các vật liệu electrolyte: YSZ, SDC/GDC, La0.2O3-δ (LSGM)… và các vật liệu làm catốt: La0. Cấu tạo pin nhiên liệu [10] Ngoài những bộ phận chính như đã nêu; các thiết bị phụ trợ như máy nén, máy bơm, để cung cấp các khí đầu vào, máy trao đổi nhiệt, hệ thống kiểm tra các 5 yêu cầu, sự chắc chắn của sự vận hành máy, hệ thống dự trữ và điều chế nhiên liệu. Một pin riêng lẻ chỉ tạo được một điện thế rất thấp cho nên tùy theo điện thế cần dùng mà người ta thường ghép nhiều pin riêng lẻ được nối kế tiếp vào nhau, tức là chồng lên nhau.
Các module pin nhiên liệu thường kết nối với nhau theo kiểu song song hay trực tiếp để tạo ra các thiết bị có mức công suất phát điện khác nhau và lớn hơn [1]. Nguyên lý hoạt động của pin nhiên liệu Về phương diện hóa học pin nhiên liệu là phản ứng ngược lại của sự điện phân. Trong quá trình điện phân nước bị tách ra thành khí hiđrô và khí ôxy nhờ vào năng lượng điện. Pin nhiên liệu lấy chính hai chất này biến đổi chúng thành nước và sinh ra dòng điện [1].
Hai nhiên liệu cơ bản cần thiết cho pin nhiên liệu vận hành chỉ đơn giản là hiđrô và ôxy. Lợi thế hấp dẫn của pin nhiên liệu là ở chỗ nó tạo ra dòng điện sạch, rất ít ô nhiễm, do sản phẩm phụ của quá trình phát điện cuối cùng chỉ là nước, không hề độc hại. Các phản ứng hóa học tạo ra dòng điện chính là chìa khóa trong cơ chế hoạt động của pin nhiên liệu. Có nhiều loại pin nhiên liệu và mỗi kiểu vận hành một cách khác nhau nhưng cùng chung nguyên tắc cơ bản.
Màng vận chuyển ion đóng vai trò quyết định chủ chốt, chỉ cho phép những ion thích hợp đi qua giữa anốt và catốt, vì nếu electron tự do hay các chất khác cũng có thể đi qua màng này, chúng sẽ làm sai các phản ứng hóa học trong pin. Dù cùng gặp ở anốt hay catốt, sự kết hợp với nhau giữa hiđrô và ôxy tạo ra nước, thoát ra khỏi pin. Pin nhiên liệu sẽ liên tục phát điện khi vẫn được cung cấp hiđrô và ôxy [2].1) Phản ứng hóa học tổng quát cho pin nhiên liệu còn tương tự như phản ứng hóa học mô tả quá trình hiđrô bị đốt cháy với sự hiện diện của ôxy, tức cũng là sự kết hợp giữa khí hiđrô và ôxy tạo nên năng lượng; điểm làm nên sự khác biệt quan trọng giữa hai quá trình đó nằm ở cơ chế phản ứng - phản ứng cháy tạo ra nhiệt trong khi phản ứng điện hóa của pin nhiên liệu sinh ra điện năng. Pin nhiên liệu chuyển đổi trực tiếp hóa năng thành điện năng, quá trình này không liên quan đến sự chuyển hóa nhiệt thành cơ năng nên không phải là đối tượng của định luật nhiệt 6 động lực học, giới hạn hiệu suất tối đa của các động cơ nhiệt thông thường Carnot.
Do đó, hiệu suất pin nhiên liệu có thể vượt được giới hạn Carnot, thậm chí ngay cả khi vận hành ở nhiệt độ tương đối thấp [2, 11]. Phân loại pin nhiên liệu Các hệ thống pin nhiên liệu được phân loại theo nhiều cách tùy theo các tiêu chí khác nhau nhưng chủ yếu phân loại dựa trên sự khác biệt về nhiệt độ hoạt động hoặc sự khác biệt về electrolyte [1]. Phân loại pin nhiên liệu theo nhiệt độ hoạt động gồm có: pin nhiên liệu hoạt động ở nhiệt độ thấp 500-650°C, pin nhiên liệu hoạt động ở nhiệt độ trung bình 650-800°C và pin nhiên liệu hoạt động ở nhiệt độ cao 800-1000°C. Tuy nhiên sự phân loại theo electrolyte là cách phân loại thông dụng nhất hiện nay.
Có màng vận chuyển chỉ cho phép proton H + đi qua, có màng chỉ cho phép ion O2- xuyên qua. Các electrolyte sử dụng cũng được lấy làm tên gọi để phân biệt các dạng pin nhiên liệu khác nhau. Phân loại một số pin nhiên liệu [2]. Pin nhiên liệu ôxít rắn a) Khái niệm Pin nhiên liệu ôxít rắn (Solid Oxide Fuel Cell – SOFC) hiện tại là loại pin nhiên liệu có nhiệt độ hoạt động cao nhất và nó có thể hoạt động trong môi trường có nhiệt độ dao động từ 600 đến 1000°C, cho phép sử dụng được rất nhiều loại nhiên liệu khác nhau.
Để có thể hoạt động được ở nhiệt độ cao như vậy, người ta sử dụng một màng mỏng chế tạo từ gốm (ôxít rắn) để làm màng vận chuyển ion (như ôxít calcium hoặc ôxít ziconium), màng này có tính dẫn đối với ion O2-. Tại cực dương, các phân tử O2 trong không khí bị khử thành O2-. Các ion O2- này chạy qua màng và kết hợp với hiđrô tại cực âm để giải phóng các electron [10]. Các electron chạy qua một mạch điện bên ngoài để tạo ra dòng điện và một lượng nhiệt nhất định.
Hiệu suất của SOFC thuộc loại cao nhất trong tất cả các loại pin nhiên liệu hiện nay, vào khoảng 60%. Ngoài ra nhiệt độ hoạt động cao của hệ thống cho phép bổ sung thêm một số thiết bị vào hệ thống để tạo ra hơi nước có áp suất cao có thể sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau. Kết hợp một pin nhiên liệu hoạt động ở nhiệt độ cao với một tuabin thành một pin nhiên liệu lai ghép thậm chí còn có thể nâng cao thêm hiệu suất phát điện của toàn bộ hệ thống lên trên 70% [7]. Công suất đầu ra của SOFC khoảng 100 kW, chính vì vậy mà SOFC được ứng dụng trong các hệ thống tĩnh khá lớn và nhiệt thừa có thể tái tận dụng để tạo thêm nguồn điện bổ sung [2, 12].
Phản ứng xảy ra trong pin: Anốt: 2H2 + 2O2- → 2H2O + 4e- (1. Cấu tạo và nguyên lý hoạt động của pin nhiên liệu ôxít rắn [12] b) Phân loại pin nhiên liệu ôxít rắn SOFC - Theo nhiệt độ hoạt động: SOFC hoạt động ở nhiệt độ thấp LT-SOFC 500-650°C, SOFC hoạt động ở nhiệt độ trung bình IT-SOFC 650-800°C, SOFC hoạt động ở nhiệt độ cao HT-SOFC 800-1000°C. - Dựa vào hình dạng: + Dạng phẳng, các cell được nối với nhau qua các tấm interconnect. Pin nhiên liệu ôxít rắn dạng phẳng [13] 9 + Dạng ống, dòng không khí (O2) đi phía trong ống, dòng nhiên liệu đi phía ngoài thành ống.
Pin nhiên liệu ôxít rắn dạng ống [5, 14] - Dựa vào số buồng phản ứng: pin nhiên liệu hai buồng (Dual-chamber) DC-SOFC hay pin nhiên liệu đơn buồng (Single-chamber) SC-SOFC. + Pin nhiên liệu hai buồng phản ứng - Dual chamber SOFC: là loại pin nhiên liệu ôxít rắn thông dụng sử dụng hiđrô ở điện cực nhiên liệu. Để DC-SOFC hoạt động đạt hiệu suất cao, ngoài các yêu cầu về tính chất của vật liệu làm điện cực, độ dày và độ kết khối của màng electrolyte (để loại bỏ khả năng hiđrô ở điện cực anốt xuyên qua màng di chuyển về phía điện cực catốt để gặp ôxy) [15], độ gắn kết giữa electrolyte và điện cực, hoạt tính xúc tác, độ xốp xúc tác… các vật liệu còn phải đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt khác là: khả năng làm kín của vật liệu (ngăn cách hai điện cực ở hai khu vực phản ứng riêng biệt hay ngăn sự trộn lẫn giữa ôxy và hiđrô) [5], tránh sự nứt vỡ do độ giãn nở nhiệt của vật liệu ở nhiệt độ cao trong tình trạng tế bào pin nhiên liệu bị có cứng do làm kín… Hệ thống pin nhiên liệu ôxít rắn DC- SOFC vì thế thường phức tạp và khá cồng kềnh.