Luận án tiến sĩ nghiên cứu tổng hợp cấu trúc và tính chất của vật liệu dẫn ion lithium trên cơ sở cao su thiên nhiên loại protein

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tổng hợp cấu trúc và tính chất vật liệu dẫn ion lithium từ cao su thiên nhiên loại protein, ứng dụng tiềm năng.

Chuyên ngành

Kỹ thuật hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

164
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Cấu trúc vật liệu dẫn ion lithium

Nghiên cứu tập trung vào cấu trúc vật liệu dẫn ion lithium được tổng hợp từ cao su thiên nhiên loại protein. Quá trình loại bỏ protein và epoxy hóa cao su thiên nhiên tạo ra cấu trúc polyme có khả năng dẫn ion lithium hiệu quả. Cấu trúc này được phân tích bằng các phương pháp như FT-IR, NMR, và XRD để xác định sự hình thành các nhóm epoxy và liên kết hóa học giữa polyme và muối lithium. Kết quả cho thấy, cấu trúc vật liệu có ảnh hưởng lớn đến tính chất dẫn ion và độ bền cơ học của màng.

1.1. Quá trình loại bỏ protein

Quá trình loại bỏ protein từ cao su thiên nhiên được thực hiện bằng cách sử dụng các hóa chất như ammonium sulphate, axit acetic, và ure. Hiệu quả loại bỏ protein được đánh giá thông qua hàm lượng gel và phân tích phổ FT-IR. Kết quả cho thấy, hàm lượng protein giảm đáng kể, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình epoxy hóa tiếp theo.

1.2. Epoxy hóa cao su thiên nhiên

Quá trình epoxy hóa được thực hiện bằng cách sử dụng axit peracetic, tạo ra các nhóm epoxy trên mạch polyme. Hàm lượng nhóm epoxy được xác định bằng phương pháp chuẩn độ và phân tích phổ NMR. Kết quả cho thấy, hàm lượng nhóm epoxy tăng lên khi tăng lượng axit peracetic, ảnh hưởng trực tiếp đến tính chất dẫn ion của vật liệu.

II. Tính chất vật liệu dẫn ion lithium

Nghiên cứu đánh giá tính chất vật liệu dẫn ion lithium thông qua các phương pháp phân tích nhiệt (DSC, TGA), phân tích phổ tổng trở điện hóa, và đo độ bền cơ học. Kết quả cho thấy, vật liệu có độ dẫn ion cao ở nhiệt độ phòng, đạt khoảng 10^-4 S/cm, và có độ bền cơ học tốt. Tính chất điện của vật liệu được cải thiện đáng kể khi sử dụng chất hóa dẻo (EC+PC) và bột độn nano SiO2.

2.1. Ảnh hưởng của muối lithium

Hàm lượng muối lithium (LiCF3SO3) ảnh hưởng trực tiếp đến tính chất dẫn ion và nhiệt độ hóa thủy tinh (Tg) của màng. Kết quả phân tích DSC cho thấy, Tg giảm khi tăng hàm lượng muối, điều này làm tăng độ linh động của các ion lithium trong màng polyme.

2.2. Ảnh hưởng của chất hóa dẻo

Chất hóa dẻo (EC+PC) được sử dụng để cải thiện tính chất dẫn ion của màng. Kết quả cho thấy, độ dẫn ion tăng lên đáng kể khi tăng hàm lượng chất hóa dẻo, đồng thời Tg của màng cũng giảm, tạo điều kiện thuận lợi cho sự di chuyển của các ion lithium.

III. Ứng dụng vật liệu dẫn ion lithium

Vật liệu dẫn ion lithium tổng hợp từ cao su thiên nhiên loại protein có tiềm năng ứng dụng lớn trong lĩnh vực chế tạo pin lithium. Vật liệu này có thể thay thế các vật liệu dẫn ion lỏng truyền thống, giúp tăng tính an toàn và độ bền của pin. Ngoài ra, vật liệu còn có khả năng phân hủy sinh học, thân thiện với môi trường, phù hợp với xu hướng phát triển bền vững.

3.1. Ứng dụng trong pin lithium

Vật liệu được sử dụng làm màng phân cách và dẫn ion trong pin lithium, giúp tăng hiệu suất và độ an toàn của pin. Kết quả thử nghiệm cho thấy, pin sử dụng vật liệu này có độ ổn định cao và khả năng chịu nhiệt tốt.

3.2. Tiềm năng thương mại hóa

Với giá thành thấp và nguồn nguyên liệu dồi dào, vật liệu có tiềm năng lớn trong việc thương mại hóa. Các nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình sản xuất và mở rộng ứng dụng trong các lĩnh vực khác như thiết bị điện tử và năng lượng tái tạo.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần mở đầu: nêu lý do lựa chọn đề tài luận án, mục tiêu và phƣơng pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu và những đóng góp mới của luận án. Chƣơng 1 giới thiệu tổng quan về vật liệu polyme dẫn ion, nêu những vấn đề còn tồn tại, chỉ ra những vấn đề mà luận án đã tập trung nghiên cứu và giải quyết. Chƣơng 2 giới thiệu các phƣơng pháp tổng hợp và phƣơng pháp xác định cấu trúc và đặc tính của sản phẩm. Chƣơng 3 trình bày các kết quả phân tích cấu trúc và đặc tính của sản phẩm màng polyme dẫn ion trên cơ sở cao su thiên nhiên loại protein.

Phần kết luận: Tổng kết các kết quả chính của luận án, những đóng góp mới của luận án và các kiến nghị cho các nghiên cứu tiếp theo. TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU POLYME DẪN ION 1.1 Quá trình phát triển của vật liệu polyme dẫn ion Trong nhiều năm trƣớc đây, polyme đƣợc coi nhƣ là vật liệu cách điện và đƣợc sử dụng rộng rãi làm vật liệu bảo vệ cáp. Khi công nghệ tổng hợp polyme phát triển, một loại vật liệu mới là polyme dẫn điện đƣợc sản xuất. Vật liệu polyme này thƣờng có liên kết liên hợp trong chuỗi polyme.

Do các điện tử có thể chuyển động dọc theo chuỗi polyme nhờ tính linh động của các điện tử π nên tạo ra quá trình dẫn điện. Ví dụ về những polyme này là polyacetylene, polyphenylene, polypyrole. Tuy nhiên, năm 1970 các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra polyethylene oxide (PEO) không dẫn trở nên dẫn điện khi muối lithium đƣợc thêm vào polyme. Loại vật liệu này đƣợc gọi là polyme dẫn ion (polyme điện ly).

Fenton và cộng sự (1973) là nhóm đầu tiên phát hiện ra vật liệu polyme dẫn ion này [12]. Tuy nhiên, những phát hiện này chƣa đƣợc đánh giá cao cho đến năm 1978, Armad và cộng sự đã nghiên cứu tích chất dẫn ion của vật liệu dẫn ion trên cơ sở PEO và muối lithium, kết quả cho thấy có khả năng ứng dụng vật liệu này trong hệ thống điện hóa do góp phần cải thiện sự an toàn trong pin thứ cấp lithium hơn so với các vật liệu dẫn ion lỏng [13]. Các ƣu điểm khác của polyme dẫn ion so với vật liệu dẫn ion lỏng nhƣ khả năng chống cháy, bền trong các điều kiện khắc nghiệt, vật liệu có tính đàn hồi tốt nên tiếp xúc với điện cực tốt và có thể chế tạo thành các thiết bị nhỏ gọn hơn [14]. Nhƣợc điểm chính của vật liệu dẫn ion là có độ dẫn thấp hơn vật liệu dẫn ion lỏng ở nhiệt độ phòng [1].

Vật liệu polyme dẫn ion đƣợc sử dụng trong các thiết bị điện hóa thƣờng có hai nhiệm vụ cơ bản là dẫn ion và màng phân cách các điện cực để tránh ngắt mạch. Vật liệu polyme dẫn ion lý tƣởng nhất phải có độ dẫn của chất lỏng và độ ổn định cơ học của chất rắn. PEO đã đƣợc nghiên cứu rộng rãi nhất làm polyme nền vì PEO chỉ chứa các liên kết CO, CC và CH [15-20] nên vật liệu dẫn ion trên cơ sở PEO ổn định về mặt hóa học và điện hóa. Các muối kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, kim loại chuyển tiếp và các ion Lantan thƣờng đƣợc nghiên cứu trộn với polyme PEO [21].

Tuy nhiên, vật liệu dẫn ion trên cơ sở vật liệu nền PEO có độ dẫn ở nhiệt độ phòng thấp khoảng 10–7 ÷ 10–6 S.cm–1 và có nhiệt độ nóng chảy của pha tinh thể cao [2] nên có thể dễ dàng kết tinh dẫn tới hạn chế khả năng 5 ứng dụng thực tế. Những hạn chế của vật liệu dẫn ion trên cơ sở PEO đã đƣợc các nhà nghiên cứu khắc phục bằng cách sử dụng các polyme nền khác nhƣ polyacrylonitrile (PAN) [3, 4], poly (vinyldidene fluoride) (PVDF) [5, 6], PMMA [7],… làm polyme nền trong vật liệu dẫn ion. Trong những năm gần đây, các polyme tự nhiên nhƣ chitosan [8], tinh bột [9] và cao su thiên nhiên [10] cũng đã đƣợc nghiên cứu sử dụng trong chế tạo màng polyme dẫn ion. Vật liệu polyme dẫn ion có độ dẫn thấp có thể đƣợc cải thiện bằng cách thêm vào các chất hóa dẻo để tạo thành vật liệu polyme dẫn ion dạng gel.

Chất hóa dẻo có thể làm cho muối lithium phân ly thuận lợi hơn và tăng cƣờng vùng vô định hình trong polyme nền [22], [23]. Các nghiên cứu khác để cải thiện độ dẫn điện của vật liệu polyme dẫn ion bằng cách đƣa thêm bột độn có kích thƣớc nano tạo ra vật liệu polyme compozit dẫn ion, trong đó các cặp ion và tập hợp các ion có thể đƣợc phân ly do các tƣơng tác axit-bazo tạo ra một đƣờng dẫn ion mới cho quá trình vận chuyển ion. Song song với quá trình trên, các công nghệ chế tạo vật liệu dẫn ion trên cơ sở các polyme nền là hỗn hợp của 2 loại polyme giúp cải thiện tính chất dẫn ion, tính chất cơ và hình thái học của vật liệu polyme dẫn ion [24], ví dụ: khi tổng hợp vật liệu dẫn ion trên cơ sở polyme nền là PEO, sử dụng muối LiCF3SO3 (tại hàm lƣợng muối 15 %) có độ dẫn là 2,1 × 10-6 S.cm-1, nếu sử dụng thêm ENR50 với tỷ lệ hàm lƣợng PEO/ENR50 là 70/30 tại hàm lƣợng muối này thì độ dẫn ion của vật liệu polyme dẫn là 4,2 × 10-5 S. Kết quả cho thấy tính chất đàn hồi của ENR50 làm giảm bản chất thủy tinh của PEO, cải thiện tính linh động các phân đoạn (segment) của mạch polyme nền giúp tăng cƣờng độ dẫn ion.

Tính chất bám dính tốt giúp cải thiện độ tiếp xúc hiệu quả với các điện cực trong các linh kiện điện hóa [19], các nghiên cứu khác về vật liệu dẫn trên cơ sở polyme blend nhƣ: PEMA/ENR50 [25], PVC-ENR50 [26], PVAc-PMMA [24], PVDF-ENR50 [6],….Trong những năm gần đây nhất, các nghiên cứu thƣờng tập trung vào chế tạo vật liệu compozit dẫn ion trên cơ sở polyme blend, muối, chất hóa dẻo và bột độn nano để cải thiện tính chất dẫn và độ bền cơ học. Độ dẫn và tính chất cơ học của vật liệu polymer compozit phụ thuộc vào polyme nền, hàm lƣợng muối lithium, loại muối lithium, loại và hàm lƣợng chất hóa dẻo cũng nhƣ loại và hàm lƣợng bột oxit nano [27], [28], [29].2 Cấu trúc của polyme trong vật liệu polyme dẫn ion Vật liệu polyme dẫn ion trên cơ sở PEO là thế hệ đầu tiên của màng polyme rắn không dung môi [12]. PEO là một polyme mạch thẳng của ethylene oxit với độ tinh thể cao khoảng 70 ÷ 80 % do các mắt xích cơ bản sắp xếp đều đặn, PEO có nhiệt độ nóng chảy (Tm) khoảng 65 0C và nhiệt độ hóa thủy tinh (Tg) khoảng -60 0C. Tác giả Armand cho rằng nguyên tử oxi trong nhóm ete của mắt xích cơ bản PEO có khả năng tạo liên kết phối trí với các cation kim loại kiềm giúp cho PEO trở thành một môi trƣờng hòa tan tốt cho các muối kim loại kiềm.

Tuy nhiên, độ kết tinh của PEO cao dẫn đến độ dẫn ion thấp ở nhiệt độ phòng [30]. Tác giả Cowie, cho rằng phần lớn độ dẫn ion đến từ các phần sắp xếp hỗn loạn trong mạng nền polyme (pha vô định hình) và đƣợc gắn liền với chuyển động của các phân đoạn polyme có biên độ lớn. Tác giả chỉ ra phƣơng pháp hiệu quả để tăng độ dẫn là giảm mức độ tinh thể và tạo ra một hệ thống polyme vô định hình trong phạm vi nhiệt độ mong muốn [31]. Độ dẫn ion của vật liệu dẫn ion trên cơ sở PEO ở mức chấp nhận khi vật liệu này hoạt động ở nhiệt độ lớn hơn Tm nhƣng sự phá hủy tinh thể ở nhiệt độ cao dẫn tới vật liệu dẫn ion ở trạng thái lỏng nên không thể hoạt động nhƣ một lớp phân cách [30].

Do vậy, để chế tạo vật liệu dẫn ion cần sử dụng các polyme nền có ít pha tinh thể và nhiệt độ hóa thủy tinh thấp. Để khắc phục các nhƣợc điểm liên quan đến độ tinh thể cao của PEO, các polyme có cấu trúc khác nhau đã đƣợc nghiên cứu và chuẩn bị làm polyme nền cho vật liệu polyme dẫn ion nhƣ polyme mạch thẳng, copolyme nhánh lƣợc, copolyme khối, polyme liên kết ngang và các polyme blend với nhiều nhóm phân cực trên mạch [30]. Tác giả Cowie đã nghiên cứu về vật liệu polyme dẫn ion dựa trên các cấu trúc khác nhau và chỉ ra một cách tiếp cận quan trọng là lựa chọn các polyme có cấu trúc tƣơng tự PEO có chứa các nguyên tử oxi hoặc ni tơ hoặc lƣu huỳnh trong mạch polyme có vai trò là các chất cho điện tử. Ví dụ nhƣ: poly(propylene oxide) (PPO), poly(ethylene succinate) (PES), poly(propiolactone) (PPL), poly (ethylene adipate) (PEA), poly(ethylene imine) (PEI), poly(N-propylaziridine) (PNPA) [30].

Tác giả Gray đã chỉ ra PPO có cấu trúc mạch tƣơng tự nhƣ PEO và PPO có cấu trúc vô định hình. Tuy nhiên, độ dẫn điện kém do cản trở của nhóm methyl dọc theo mạch giới hạn chuyển động của các phân đoạn hạn chế sự di chuyển ion và giảm cƣờng độ tƣơng tác polyme-cation [32]. Các 7 hƣớng nghiên cứu khác là biến đổi PEO hoặc các polyme tƣơng tự khác bằng cách tạo copolyme khối, copolyme nhánh lƣợc hoặc mạng lƣới liên kết ngang đã đƣợc chỉ ra trong các nghiên cứu của tác giả Gray [32] và Cowie [30]. Hiệu quả của phƣơng pháp giảm độ tinh thể của PEO là thay thế mạch dài bằng mạch ngắn bằng cách chuẩn bị các polyme phân nhánh gồm mạch polyete khối lƣợng phân tử thấp đƣợc ghép với một polyme hoặc chuẩn bị coplyme khối để tách mạch polyete dài thành các phân đoạn ngắn, dẫn tới độ kết tinh giảm và tính linh động của polyme tăng.

Mạch chính polyme trong các polyme phân nhánh hoặc các phần khác trong copolyme khối là trơ và hoạt động nhƣ các chất mang mạch ngắn [30, 32, 33]. Cấu trúc của một số polyme phân nhánh và polyme khối sử dụng làm polyme nền cho vật liệu polyme dẫn ion đƣợc đƣợc Meyer liệt kê trong Hình 1.1: Cấu trúc của polyme mạch nhánh và polyme khối sử dụng làm polyme nền Hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy độ dẫn ở nhiệt độ phòng tốt nhƣng độ ổn định kích thƣớc kém. Các liên kết ngang vật lý hoặc hóa học là một trong các cách để cải thiện độ ổn định kích thƣớc của vật liệu polyme dẫn ion. Tác giả Gray cho rằng cần phải kiểm soát liên kết ngang trong cấu trúc polyme dẫn ion bằng cấu trúc mạng.

Cấu trúc mạng không ổn định tại mức độ liên kết ngang thấp, khi liên kết ngang nhiều thì vật liệu trở nên rất cứng sẽ ảnh hƣởng đến sự di chuyển của các ion [32]. Vật liệu dẫn ion dựa trên cở sở polyme blend cũng đã đƣợc nghiên cứu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu tổng hợp cấu trúc và tính chất vật liệu dẫn ion lithium từ cao su thiên nhiên loại protein" tập trung vào việc khám phá và phát triển vật liệu dẫn ion lithium từ nguồn cao su thiên nhiên, đặc biệt là loại có chứa protein. Nghiên cứu này không chỉ làm sáng tỏ cấu trúc và tính chất của vật liệu mà còn mở ra tiềm năng ứng dụng trong các thiết bị lưu trữ năng lượng, như pin lithium-ion. Điều này mang lại lợi ích lớn cho ngành công nghiệp năng lượng, giúp tối ưu hóa hiệu suất và giảm chi phí sản xuất.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp chế tạo vật liệu tiên tiến, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ công nghệ vật liệu chế tạo màng TiO2 bằng phương pháp phun plasma. Nếu quan tâm đến ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực năng lượng, Luận văn tốt nghiệp điều khiển thiết bị điện sẽ là tài liệu hữu ích. Ngoài ra, để hiểu sâu hơn về xử lý vật liệu và công nghệ, Luận văn thạc sĩ kỹ thuật điện tử ứng dụng biến đổi curvelet xử lý ảnh siêu phân giải cung cấp những góc nhìn thú vị. Mỗi liên kết là cơ hội để bạn khám phá thêm những chủ đề liên quan và làm phong phú kiến thức của mình.