Chương I: Giới thiệu chung về mạng GSM Chương II: Các chỉ số quan trọng đánh giá chất lượng mạng Chương III: Phương pháp tối ưu hóa trong mạng GSM Đảm bảo và nâng cao chất lượng dịch vụ trong viễn thông, đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng vẫn đang là những vấn đề khó khăn đối với các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông, khi mà việc cạnh tranh về giá cả đã không còn thu hút với khách hàng nữa. Do đó bản luận văn không tránh khỏi những sai sót. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn. Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Thầy Nguyễn Duy Bảo người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình hoàn thành bản luận văn này.
Hà Nội, Ngày Tháng Năm 2011 Học viên thực hiện Trần Thị Hương Trà LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 CHƢƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ MẠNG GSM Hệ thống thông tin di động toàn cầu (tiếng Pháp: Groupe Spécial Mobile tiếng Anh: Global System for Mobile Communications; viết tắt GSM) là một công nghệ dùng cho mạng thông tin di động. Dịch vụ GSM được sử dụng bởi hơn 2 tỷ người trên 212 quốc gia và vùng lãnh thổ. Các mạng thông tin di động GSM khác nhau trên thế giới có thể roaming với nhau, cho phép người sử dụng có thể sử dụng ĐTDĐ của họ ở nhiều vùng trên thế giới. GSM khác với các chuẩn tiền thân của nó về cả tín hiệu và tốc độ, chất lượng cuộc gọi.
Nó được xem như là một hệ thống ĐTDĐ thế hệ thứ hai (second generation, 2G), một chuẩn mở. Hiện tại nó được phát triển bởi 3rd Generation Partnership Project (3GPP). Đứng về phía quan điểm khách hàng, lợi thế chính của GSM là chất lượng cuộc gọi tốt, giá thành thấp và dịch vụ tin nhắn. Thuận lợi đối với nhà điều hành mạng là khả năng triển khai thiết bị từ nhiều nhà cung ứng.
Lịch sử phát triển mạng GSM Những năm đầu 1980, hệ thống viễn thông tế bào trên thế giới đang phát triển mạnh mẽ đặc biệt là ở Châu Âu mà không được chuẩn hóa về các chỉ tiêu kỹ thuật. Điều này đã thúc giục Liên minh Châu Âu về Bưu chính viễn thông CEPT (Conference of European Posts and Telecommunications) thành lập nhóm đặc trách về di động GSM (Groupe Spécial Mobile) với nhiệm vụ phát triển một chuẩn thống nhất cho hệ thống thông tin di động để có thể sử dụng trên toàn Châu Âu. Ngày 27 tháng 3 năm 1991, cuộc gọi đầu tiên sử dụng công nghệ GSM được thực hiện bởi mạng Radiolinja ở Phần Lan (mạng di động GSM đầu tiên trên thế giới). Năm 1989, Viện tiêu chuẩn viễn thông Châu Âu ETSI (European Telecommunications Standards Institute) quy định chuẩn GSM là một tiêu chuẩn chung cho mạng thông tin di động toàn Châu Âu và năm 1990 chỉ tiêu kỹ thuật GSM phase I (giai đoạn I) được công bố.
Năm 1992, Telstra Australia là mạng đầu tiên ngoài Châu Âu ký vào biên bản ghi nhớ GSM MoU (Memorandum of Understanding). Cũng trong năm này, thỏa thuận chuyển vùng quốc tế đầu tiên được ký kết giữa hai mạng Finland Telecom của Phần Lan và Vodafone của Anh. Tin nhắn SMS chuyển vùng đầu tiên cũng được gửi đi trong năm 1992. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Những năm sau đó, hệ thống thông tin di động toàn cầu GSM phát triển một cách mạnh mẽ.
Cùng với sự gia tăng nhanh chóng của các nhà điều hành, các mạng di động mới thì số lượng các thuê bao cũng gia tăng một cách chóng mặt. Năm 1996, số thành viên GSM MoU đã lên tới 200 nhà điều hành từ gần 100 quốc gia. 167 mạng hoạt động trên 94 quốc gia với số thuê bao đạt 50 triệu. Năm 2000, GPRS được ứng dụng.
Năm 2001, mạng 3GSM (UMTS) được đi vào hoạt động, số thuê bao GSM đã vượt quá 500 triệu. Năm 2003, mạng EDGE đi vào hoạt động. Cho đến năm 2006 số thuê bao di động GSM đã lên tới con số 2 tỉ với trên 700 nhà điều hành, chiếm gần 80% thị phần thông tin di động trên thế giới. Theo dự đoán của GSM Association, năm 2007 số thuê bao GSM sẽ đạt 2,5 tỉ.org ) Hình 1-1 Thị phần thông tin di động trên thế giới năm 2006 1.
Cấu trúc địa lý của mạng Mọi mạng điện thoại cần một cấu trúc nhất định để định tuyến các cuộc gọi đến tổng đài cần thiết và cuối cùng đến thuê bao bị gọi. Ở một mạng di động, cấu trúc này rất quạn trọng do tính lưu thông của các thuê bao trong mạng. Trong hệ thống GSM, mạng được phân chia thành các phân vùng sau (hình 1.2):[1] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Hình 1-2 Phân cấp cấu trúc địa lý mạng GSM Hình 1-3 Phân vùng và chia ô 1. Vùng phục vụ PLMN (Public Land Mobile Network) Vùng phục vụ GSM là toàn bộ vùng phục vụ do sự kết hợp của các quốc gia thành viên, đảm bảo khả năng liên kết của những máy điện thoại di động GSM của các mạng GSM khác nhau trên thế giới.
Phân cấp tiếp theo là vùng phục vụ PLMN. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Đó có thể là một hay nhiều vùng trong một quốc gia tùy theo kích thước của vùng phục vụ. Kết nối các đường truyền giữa mạng di động GSM/PLMN và các mạng khác (cố định hay di động) đều ở mức tổng đài trung kế quốc gia hay quốc tế. Tất cả các cuộc gọi vào hay ra mạng GSM/PLMN đều được định tuyến thông qua tổng đài vô tuyến cổng G-MSC (Gateway - Mobile Service Switching Center).
G-MSC làm việc như một tổng đài trung kế vào cho GSM/PLMN. Vùng phục vụ MSC MSC (Trung tâm chuyển mạch các nghiệp vụ di động, gọi tắt là tổng đài di động). Vùng MSC là một bộ phận của mạng được một MSC quản lý để định tuyến một cuộc gọi đến một thuê bao di động. Mọi thông tin để định tuyến cuộc gọi tới thuê bao di động hiện đang trong vùng phục vụ của MSC được lưu giữ trong bộ ghi định vị tạm trú VLR.
Một vùng mạng GSM/PLMN được chia thành một hay nhiều vùng phục vụ MSC/VLR. Vùng định vị (LA - Location Area) Mỗi vùng phục vụ MSC/VLR được chia thành một số vùng định vị LA. Vùng định vị là một phần của vùng phục vụ MSC/VLR, mà ở đó một trạm di động có thể chuyển động tự do mà không cần cập nhật thông tin về vị trí cho tổng đài MSC/VLR điều khiển vùng định vị này. Trong vùng định vị LA, thông báo tìm gọi sẽ được phát quảng bá để tìm một thuê bao di động bị gọi.
Hệ thống có thể nhận dạng vùng định vị bằng cách sử dụng nhận dạng vùng định vị LAI (Location Area Identity): LAI = MCC + MNC + LAC MCC (Mobile Country Code): mã quốc gia MNC (Mobile Network Code): mã mạng di động LAC (Location Area Code) : mã vùng định vị (16 bit) 1. Cell (Tế bào hay ô) Vùng định vị được chia thành một số Cell. Cell là đơn vị cơ sở của mạng, là một vùng phủ sóng vô tuyến được nhận dạng bằng nhận đạng ô toàn cầu (CGI). Mỗi ô được quản lý bởi một trạm vô tuyến gốc BTS.
CGI = MCC + MNC + LAC + CI LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CI (Cell Identity): Nhận dạng ô để xác định vị trí trong vùng định vị. Trạm di động MS tự nhận dạng một ô bằng cách sử dụng mã nhận dạng trạm gốc BSIC (Base Station Identification Code) 1. Khái niệm tế bào (Cell) Cell (tế bào hay ô): là đơn vị cơ sở của mạng, tại đó trạm di động MS tiến hành trao đổi thông tin với mạng qua trạm thu phát gốc BTS. BTS trao đổi thông tin qua sóng vô tuyến với tất cả các trạm di động MS có mặt trong Cell.[1] Hình 1-4 Khái niệm Cell Hình dạng lý thuyết của Cell là một ô tổ ong hình lục giác: Hình 1-5 Khái niệm về biên giới của một Cell Trên thực tế, hình dạng của cell là không xác định.
Việc quy hoạch vùng phủ sóng cần quan tâm đến các yếu tố địa hình và mật độ thuê bao, từ đó xác định số lượng trạm gốc BTS, kích thước cell và phương thức phủ sóng thích hợp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Kích thƣớc Cell và phƣơng thức phủ sóng Kích thước Cell Cell lớn: Bán kính phủ sóng khoảng: n km n*10 km (GSM: 35 km) Vị trí thiết kế các Cell lớn: Sóng vô tuyến ít bị che khuất (vùng nông thôn, ven biển… ) Mật độ thuê bao thấp. Yêu cầu công suất phát lớn.
Cell nhỏ: Bán kính phủ sóng khoảng: n*100 m. Mật độ thuê bao cao. Yêu cầu công suất phát nhỏ. Có tất cả bốn kích thước cell trong mạng GSM đó là macro, micro, pico và umbrella.
Vùng phủ sóng của mỗi cell phụ thuộc nhiều vào môi trường. Macro cell được lắp trên cột cao hoặc trên các toà nhà cao tầng. Micro cell lại được lắp ở các khu thành thị, khu dân cư. Pico cell thì tầm phủ sóng chỉ khoảng vài chục mét trở lại.
Nó thường được lắp để tiếp sóng trong nhà. Umbrella lắp bổ sung vào các vùng bị che khuất hay các vùng trống giữa các cell. Bán kính phủ sóng của một cell tuỳ thuộc vào độ cao của anten, độ lợi anten. Thường thì nó có thể từ vài trăm mét tới vài chục km.
Trong thực tế, khả năng phủ sóng xa nhất của một trạm GSM là 32 km (22 dặm). Một số khu vực trong nhà mà các anten ngoài trời không thề phủ sóng tới như nhà ga, sân bay, siêu thị. thì người ta sẽ dùng các trạm pico để chuyển tiếp sóng từ các anten ngoài trời vào. Phương thức phủ sóng Hình dạng của cell trong mỗi một sơ đồ chuẩn phụ thuộc vào kiểu anten và công suất ra của mỗi một BTS.
Có hai loại anten thường được sử dụng: anten vô hướng (omni) hay đẳng hướng và anten có hướng, vùng phủ sóng có dạng rẻ quạt (sector). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Phát sóng vô hƣớng – Omni directional Cell (3600) Anten vô hướng hay 3600 bức xạ năng lượng đều theo mọi hướng. Hình 1-6 Omni (3600) Cell site Khái niệm Site: Site được định nghĩa là vị trí đặt trạm BTS. Với Anten vô hướng: 1 Site = 1 Cell 3600 Phát sóng định hƣớng – Sectorization: Lợi ích của sectorization (sector hóa): Tăng năng lượng phát theo hướng, qua đó cải thiện chất lượng tín hiệu (Giảm can nhiễu kênh chung).
Tăng dung lượng thuê bao. Hình 1-7 Sector hóa 1200 Với Anten định hướng 1200: 1 Site = 3 Cell 1200 1. Tái sử dụng lại tần số Một hệ thống tổ ong là dựa trên việc sử dụng lại tần số.