Chương 1 KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT VÙNG MỎ RUBI, SAPHIR LỤC YÊN (YÊN BÁI) VÀ QUỲ CHÂU (NGHỆ AN) 1. DAC ĐIỂM ĐỊA CHẤT VÙNG MỎ RUBI, SAPHIR LỤC YÊN 1. KHÁI QUÁT Vùng mỏ rubi, saphir Lục Yên là một khu vực giàu triển vọng. Phát hiện đầu tiên có ý nghĩa về đá quý trong vùng mỏ là phát hiện về sa khoáng rubi.
saphir và spinel An Phú vào năm 1983. Vùng mỏ thuộc huyện ly Lục Yên. tỉnh Yên Bái và lân cận với diện tích gần 400 km”. Từ 1983 đến 1995, công tác tìm kiếm đánh giá đá quý tại Lục Yên được tiến hành.
những năm 1990 đến 1995 có các hoạt động thăm dò. khai thác đá quý trong khu vực. Vùng mỏ bao gồm các mỏ sa khoáng rubi. saphir như: Khoan Thống.
An Phú và hàng loạt các điểm quặng, biểu hiện quặng sa khoáng và một số biểu hiện quặng gốc khác. ĐẶC DIEM DIA CHAT 1. DIA TANG: Về vị trí địa chat, vùng mỏ nam tai phan mút phía Dong Nam đới Song Lo, nơi lộ ra các đá biến chất tuổi cổ nhất của đới nay. Trên cơ sở đo vẽ địa chất nhóm tờ Doan Hùng-Yên Bình tỷ lệ 1/50.
- Hệ tang Thác Ba (PR;- € ,/6): Cấu thành hệ tầng Thác Ba là đá phiến thạch anh mica (mica thạch anh) bị migmatit hoá. gneis hoá và quarzit mica. Can cứ vào đặc điểm thạch học, vi trí của các đá trong mặt cat địa tầng có thể chia thành 2 tập: - Tap 1: Chủ yếu gồm đá phiến thạch anh 2 mica (2 mica thạch anh) xen kẹp lớp đá phiến thạch anh biotit (hoặc muscovit) thường bị migmatit hoá với các mức độ khác nhau và gneis hoá (gneis 2 mica, gneis muscovit hoặc biotit) có xen kẹp các lớp thấu kính vôi hoặc quarzit. —¬ 18 - Tập 2: Thanh phần chủ yếu là quarzit, quarzit sericit có xen kẹp các lớp mỏng.
thấu kính mỏng đá phiến thạch anh mica (mica thạch anh). - Hệ tang An Phú (PR; -€, 4p): Lộ ra trên phạ m vi vùn g mỏ với diện lộ tươn g đối lớn. phát triển chủ yếu ở phần trung tâm và tạo thành một vài chom nhỏ rai rác phía Dong Bác. Cấu thành hệ tầng An Phú chủ yếu là đá hoa calcit có xen đá hoa dolomit.
thường có chứa phlogopit, fucsit, graphit. - Trầm tích Dé tứ (Q): Phủ trực tiếp trên các đá biến chất hệ tang Thác Bà và hệ tầng An Phú là các trầm tích bở rời tuổi Đệ tứ, bao gồm các trầm tích aluvi của các sông suối. các tích tụ trong thung lũng karst, thung lũng trên sườn núi và các trầm tích bở rời, sườn tích trên các sườn đồi, sườn núi. Trong vùng mỏ khá phổ biến các trầm tích Đệ tứ có chứa đá quý sa khoáng, nhưng phần nhiều chưa được đánh giá đầy đủ.
CÁC ĐÁ XÂM NHẬP - Phức hệ Phia Ma (cÉPZ„pm): Các đá kiềm phức hệ Phia Ma bao gồm: granosyenit horlblend granat và granosyenit pyroxen. tạo thành các khối nhỏ ở An Phú. thường nam tại ranh giới giữa đá hoa hệ tang An Phú và granit phức hệ Phia Bioc. ranh giới tiếp xúc không rõ ràng [26].
Granosyenit pyroxen: Da hạt nhỏ đến vừa. màu xám sáng, có chấm màu lục. Kiến trúc porphir trên nền hạt nhỏ. bán tự hình; cấu tạo khối.
Thành phần chủ yếu là felspat kali (75%) có dạng hat tha hình. hạt vừa đến nhỏ. phân bố đều: thạch anh (20%) dạng hạt méo m6, thành đám nhỏ nam xen với felspat kali; pyroxen (egyrin ?) có dạng lăng trụ ngắn hoặc dài, ngoài ra còn có plagioclas (3%), apatit, sphen. Granosyenit horlblend granat: Đá hạt vừa đến nhỏ.
màu xám sáng có những chấm lục nâu; cấu tạo khối. Thành phần chủ yếu là felspat kali (83%) có dạng hạt tha hình; thạch anh hạt vừa đến nhỏ, phân bố đều trong đá: horlblend có dạng lang tru ngắn hoặc dài; granat dạng hạt nhỏ méo mó, nằm đơn lẻ. Khoáng vật phụ có apatit. Felspat kali chủ yếu là orthoclas, plagioclas là loại oligoclas có thành phan Ab77- An23.
19 Biotit thuộc loại nghèo MgO = 3,26%; giàu FeO = 24.16% với sự tham gia của natri (Na;O = 0,19%). Granat có thành phan MgO = 0,97%: CaO = 6.97% tương ứng với thành phần của grosule có nguồn gốc biến chất trao đối. Horlblend dang lăng trụ chứa nhiều bao thể apatit, biotit, felspat kali, zircon. Có thành phần Na;O = 1,86%; K;O = 1,59%; FeO = 26.09% tương ứng với loại edenit- pargasit.
Kết quả phan tích thành phan hoá học của các đá phức hệ Phia Ma được dua ra trong bảng số 1. Hàm lượng nhóm oxit chính các đá magma phức hệ Phia Ma (%) [26] I |SH.20 | 0,59 | 99,89 Về mat thạch hoá, đặc trưng của các đá thuộc phức hệ Phia Ma có hàm lượng SiO, trung bình (SiO, = 59,91%), bão hoà nhôm (Al;O; = 17,62 - 19,13%). tổng hàm lượng kiềm rất cao 9,39-1 1,04%, tỷ lệ kali trội hơn 2 lần natri K;O/Na;O >2.31: thuộc loại cao kali (K,O = 6,25%), cao calci (CaO = 2,33 - 2,98%). Cũng theo các tác giả nhóm tờ bản đồ dia chất Doan Hùng - Yên Bình [26].
xung quanh các thể đá kiềm này không phát hiện thấy khoáng hoá. quặng hoá liên quan với chúng. các tác giả đề tài “Nghiên cứu xác lập các tiền đề địa chất và dấu hiệu tìm kiếm đá quý, nửa quý trong trầm tích biến chất cao dải bờ trái sông Hồng" lại cho rang tại Mông Sơn rubi, saphir có liên quan với những khối magma thuộc phức hệ này [23]. - Phức Hệ Phia Bioc (yaT,pb): Trong vùng mỏ, các đá granodiorit biotit.
granit sáng màu, pegmatit va aplit được xếp vào phức hệ Phia Bioc tao thành các khối vừa và nhỏ nằm rải rác. Căn cứ vào quan hệ giữa các thể đá trong không gian có thể chia phức hệ làm 2 pha: Pha 1: Granodiorit (+ biotit, 2 mica), granit (+ biotit. 2 mica) 20 Pha 2: Granit sáng màu, pegmatit, aplit Các đá này xuyên trong đá phiến thạch anh 2 mica hệ tầng Thác Bà và trong đá hoa hệ tang An Phú. Các mạch pegmatit thường có kích thước nhỏ.
chiều dày mach từ 3 - 4 centimet đến 3 - 4 decimet. dài vài decimet đến vài chục mét. Granodiorit biotit, granodiorit 2 mica: đá có mau trắng xám. hạt vừa đến nhỏ.
Kiến trúc bán tự hình. cấu tạo từ dạng khối đến định hướng. Thành phân khoáng vật của đá gồm: plagioclas loại oligoclas (30 - 32%) với dạng tấm. lãng trụ dài hoặc ngắn, thường có song tỉnh liên phiến và thường bị sericit hoá từ yếu đến mạnh: felspat kali (orthoclas 28 - 30%) có dạng tha hình.
thành đám nhỏ nam xen với plagioclas; thạch anh (15 - 23%) dạng tha hình. nằm xen giữa các đám hạt felspat: biotit (7 - 15%) dạng vảy nhỏ đến vừa, thành đám nhỏ, đôi khi thành dải: muscovit (0 - 8%). Nhìn chung các khoáng vật sắp xếp định hướng đến lộn xộn. còn thấy hiện tượng bị cà nát, milonit hoá mạnh.
Granit biotit, granit 2 mica: Đá có màu tráng xám, phớt nâu. Thành phần khoáng vật chủ yếu gồm: orthoclas (40 - 50%; plagioclas (15 - 20%); thạch anh (28 - 30%): biotit (7 - 10%); muscovit (0 - 5%). Ngoài ra còn gap zircon, apatit và một lượng rat nhỏ khoáng vật quặng. Dac điểm khoáng vật tương tự như granodiorit.
Granit sáng màu: giống như granit biotit nhưng có lượng biotit nhỏ hon (3 - 4%) Pegmatit, aplit: gặp một vài thể nhỏ, dang mach Kết quả phân tích thành phần hoá học của các đá phức hệ Phia Bioc được đưa ra trong bang số 1. Hàm lượng nhóm oxit chính các đá magma phức hệ Phia Bioc (%) [26] [TỊ_SM [S0, | Ti0, [ ALO, [RO FOO [oO [NAOT GO [NAOT KG H:>d02)1E1EIBIEIEAEIPIE-IE-IE-E a 0,05 15.89 Về mặt thạch hoá, các đá của phức hệ Phia Bioc thuộc loại bão hoà silic (SiO, = 71.98%), cao nhôm (Al;O; = 14,15%), lượng K;O trội hơn Na;O. KIEN TAO - Cac cấu trúc kiến tạo: Vùng mo ở phần mút phía Dong Nam đới tướng cau trúc Sông Lô thuộc hệ uốn nếp Việt Bác. nằm trên khối cấu trúc An Phú với các phức he thạch kiến tạo cấu thành là các đá biến chất tướng amphibolit epidot bị uốn nếp.
biến vị mạnh mẽ ở phần dưới và đá hoa. đá phiến biến chất ở phần trên. Cấu trúc này là một cấu trúc uốn nếp tương đối phức tạp, có dạng một phức nếp lõm với các nếp uốn thứ cấp và các đứt gãy phá huy hai bên cánh. Kiến trúc ban đầu của đới nói chung, trong phạm vi khối cấu trúc nói riêng bị các quá trình kiến sinh sau này làm biến cải và phức tạp hoá.
Dấu vết của quá trình cải biến nay là sự có mat của các thành tạo xâm nhập phức hệ Phia Ma và phức hệ Phía Bioc, kèm theo chúng là các khối kiến trúc vòm quy mô nhỏ trong phạm vi nếp lõm phức tạp An Phú với nhân là các thể granit. - Đứt gãy: Khống chế bình đồ kiến trúc hiện đại của khối cấu trúc là các hệ thống đứt gay phương Tây Bac-Dong Nam: hệ thống đứt gãy sông Chay và hệ thống đứt gãy Sông Lô. quy mô khá lớn, đóng vai trò đứt gãy phân đới. Đầu tiên là hệ thống đứt gãy phương Tây Bac-Dong Nam sinh thành và hoạt động kéo dài qua nhiều thời kỳ địa chất.
sau đó các hệ thống đứt gãy Đông Bác-Tây Nam và á kinh tuyến trong vùng hoạt động phá huỷ, kéo theo các hoạt động magma xâm nhập kiềm tuổi Paleozoi giữa - Mezozoi sớm. ĐỊA MẠO, VỎ PHONG HOÁ Trong vùng mỏ, địa hình rất phức tạp. phần lớn diện tích là núi cao và vừa. Đỉnh núi cao nhất tới 935 m, độ cao của nhiều đỉnh núi phổ biến ở các mức: 100 - 200 - 300 - 400 - 500 m.
Vùng núi cao nhất nằm ở trung tâm khu vực, xung quanh có các dãy núi - thấp hơn xen các thung lũng. Một số dãy núi phía Tây Bac chạy theo hướng Tây Bac- Đông Nam có độ cao 400 - 600 m, một số dãy núi ở phần phía Dong chạy theo hướng Bắc - Nam có độ cao 300 - 400 m. Địa hình karst phát triển tại trung tâm và rải rác một vài chỏm ở phía Đông khu vực. Địa hình thung lũng kém phát triển, chiếm một phần nhỏ diện tích khu vực.
Các thung lũng tương đối rộng phát triển dọc theo sông Chảy và ngòi Biệc. Rải rác có một 22 số thung lũng nhỏ trong núi. Trên vùng karst phát triển các thung lũng treo. hố sut, hang hốc karst.
Khu vực có sông Chay chạy dọc theo hướng Tây Bac-Dong Nam. ngòi Biệc là suối lớn đổ vào hồ Thác Bà. Hai bên sông Chảy và ngòi Biệc có nhiều suối nhánh nhỏ và ngắn. Trên địa hình karst dòng chảy trên mat rất kém phát triển nhưng lại phong phú các hang hốc và dòng chảy ngầm.
một số tạo thành những hang karst lớn.