CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Bê tông cường độ cao 1.1 Bê tông Bê tông là loại vật liệu đá nhân tạo được tạo ra từ quá trình rắn chắc của một hỗn hợp bao gồm xi măng, cát, đá, nước và phụ gia (nếu có) [1]. Đã từ lâu, bê tông là loại vật liệu chủ yếu được sử dụng trong ngành xây dựng. Ước tính hàng năm có hơn 35 tỷ tấn bê tông được sử dụng trên toàn cầu [2]. Ưu điểm của bê tông là loại vật liệu có khả năng chịu lực tốt, chịu được nhiệt độ cao.
Dựa theo các tính chất cơ lý của bê tông có thể phân ra các loại bê tông sau [1]: + Theo khối lượng thể tích: bê tông đặc biệt nặng, bê tông nặng, bê tông tương đối nặng, bê tông nhẹ. + Theo khả năng chịu lực: bê tông thường, bê tông cường độ cao, bê tông cường độ siêu cao. + Theo công dụng: bê tông chịu nhiệt, bê tông chịu axit, bê tông chống phóng xạ … 1.2 Bê tông cường độ cao Sự phát triển của ngành xây dựng cùng với nhu cầu sử dụng của con người ngày nay đã dẫn đến việc xuất hiện nhiều các công trình cao tầng, siêu cao tầng, các công trình cầu nhịp lớn và các đập thủy lợi lớn. Các công trình này thường có tải trọng bản thân tương đối lớn và cần tốn nhiều vật liệu để thi công, gây lãng phí nguồn tài nguyên [3].
Do đó, việc sử dụng bê tông cường độ cao cho các công trình này là điều cần thiết, điều này giúp giảm tiết diện kết cấu, đảm bảo kiến trúc thông thoáng hơn nhưng kết cấu vẫn đủ khả năng chịu lực [3]. Theo TCVN 10306:2014, bê tông cường độ cao là bê tông có cường độ chịu nén đặc trưng ở 28 ngày tuổi đạt từ 55 MPa theo tiêu chuẩn ASTM C39 cho mẫu hình trụ có đường kính D = 150 mm, H = 300 mm [4]. HVTH: DƯƠNG NGỌC PHI LONG – MSHV: 1970282 1 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. BÙI PHƯƠNG TRINH TS.
LƯU XUÂN LỘC Nguyên tắc chế tạo bê tông cường độ cao là bổ sung các hạt cực mịn có xảy ra phản ứng hóa học, góp phần tạo ra các sản phẩm hydrat hóa và có khả năng lấp đầy các lỗ rỗng, làm cho cấu trúc bê tông trở nên đặc chắc. Để chế tạo bê tông cường độ cao, cần sử dụng hàm lượng lớn xi măng, phụ gia khoáng hoạt tính và chất độn thay thế [5]. Nguyên liệu thêm vào để chế tạo bê tông cường độ cao có giá thành tương đối cao, làm cho giá bê tông cũng tăng theo. Việc thêm vào hàm lượng lớn xi măng góp phần thúc đẩy việc sản xuất xi măng phát triển, nhưng đi kèm với đó là các tác động bất lợi đến môi trường từ quá trình sản xuất xi măng.
Phát triển bền vững đang là một xu thế hàng đầu trong ngành công nghiệp sản xuất bê tông; do đó, việc tìm loại vật liệu thay thế xi măng là điều cần thiết.2 Bùn phế thải Quá trình sản xuất và sinh hoạt của con người đã để lại một lượng lớn chất thải. Theo thời gian các chất thải bắt đầu lắng lại và tạo thành bùn thải. Bùn thải gồm nhiều loại bùn khác nhau được phân loại như sau: + Bùn nạo vét: gồm có bùn nạo vét tại kênh mương, cửa sông, biển (xem Hình 1. + Bùn thải từ các nhà máy: nhà máy cấp nước và nhà máy xử lý nước (xem Hình 1.
Bùn thải chứa các kim loại nặng như Zn, Ni, Cu, Cd, Pb, Hg, Se, As,…và chứa nhiều vi sinh vật gây mùi [6]. Nếu không được xử lý tốt sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Theo số liệu ghi nhận được tại nhà máy nước Thủ Đức, mỗi ngày nhà máy thải ra từ 40 – 50 tấn bùn tùy theo mùa [7]. HVTH: DƯƠNG NGỌC PHI LONG – MSHV: 1970282 2 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS.
BÙI PHƯƠNG TRINH TS. LƯU XUÂN LỘC Hình 1.1 Bùn nạo vét tại cửa sông [8] Hình 1.2 Bùn tại nhà máy xử lý nước thải [8] Từ nhu cầu về việc xử lý lượng bùn phát sinh, đề tài này hướng tới việc sử dụng bùn vào thay thế một phần xi măng nhằm mang lại hiệu quả kinh tế và góp phần bảo vệ môi trường. HVTH: DƯƠNG NGỌC PHI LONG – MSHV: 1970282 3 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. BÙI PHƯƠNG TRINH TS.
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới Các nghiên cứu trên thế giới chủ yếu sử dụng bùn nạo vét và bùn ở các nhà máy xử lý nước thải để tiến hành thay thế một phần xi măng. Cụ thể như sau: + Sử dụng bùn nạo vét thay thế một phần xi măng Zhao và cộng sự [6] đã sử dụng bùn được nạo vét ở Cảng Dunkirk (Pháp) để thay thế một phần xi măng với hàm lượng thay thế là 0, 10, 20 và 30%. Bùn được xử lý qua 3 giai đoạn: sấy khô ở 40 oC, nung trong lò ở 450 oC và cuối cùng là nghiền mịn lấy hạt có đường kính từ 1 – 20 μm. Xi măng được sử dụng trong nghiên cứu là loại xi măng CEM I 52.5 dùng để đúc mẫu đối chứng và mẫu chứa bùn, và loại xi măng CEM II 32.5 được dùng để đúc mẫu so sánh với các mẫu có thay thế bùn.
Kết quả độ sụt của các mẫu thí nghiệm giảm khi hàm lượng bùn thay thế tăng lên (xem Hình 1. Tương tự, cường độ chịu nén (xem Hình 1.4) và cường độ chịu kéo khi uốn (xem Hình 1.5) ở 7 và 28 ngày tuổi giảm khi hàm lượng bùn thay thế tăng lên.3 Độ sụt của hỗn hợp bê tông trong nghiên cứu của Zhao và cộng sự [6] HVTH: DƯƠNG NGỌC PHI LONG – MSHV: 1970282 4 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. BÙI PHƯƠNG TRINH TS. LƯU XUÂN LỘC Chú thích: + Slump (mm): độ sụt (mm) + M0-52.5: mẫu đối chứng không dùng bùn và sử dụng xi măng CEM I 52.5: mẫu dùng 10% bùn thay thế xi măng và sử dụng xi măng CEM I 52.5: mẫu dùng 20% bùn thay thế xi măng và sử dụng xi măng CEM I 52.5: mẫu dùng 30% bùn thay thế xi măng và sử dụng xi măng CEM I 52.5: mẫu không dùng bùn thay thế xi măng và sử dụng xi măng CEM II 32.4 Cường độ chịu nén của bê tông trong nghiên cứu của Zhao và cộng sự [6] Chú thích: + Compressive strength (MPa): cường độ chịu nén (MPa) + Rc 7d, Rc 28d: cường độ chịu nén ở 7, 28 ngày tuổi HVTH: DƯƠNG NGỌC PHI LONG – MSHV: 1970282 5 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS.
BÙI PHƯƠNG TRINH TS. LƯU XUÂN LỘC Hình 1.5 Cường độ chịu kéo khi uốn của bê tông trong nghiên cứu của Zhao và cộng sự [6] Chú thích: + Flexural strength (MPa): cường độ chịu kéo khi uốn (MPa) + Rf 7d, Rf 28d: cường độ chịu kéo khi uốn ở 7, 28 ngày tuổi Ez-zaki và cộng sự [9] đã sử dụng bùn nạo vét ở cống Lyvet sông Rance và bùn lấy ở Vịnh Mont Saint Michel rồi trộn với bột vỏ hàu được nghiền mịn và sau đó thay thế 8 và 33% xi măng bằng bùn. Bùn được xử lý bằng cách nung ở 2 mức nhiệt độ, bao gồm 650 và 850 oC. Kết quả cho thấy cường độ chịu nén giảm khi hàm lượng bùn thay thế tăng lên (xem Hình 1.
HVTH: DƯƠNG NGỌC PHI LONG – MSHV: 1970282 6 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. BÙI PHƯƠNG TRINH TS. LƯU XUÂN LỘC Hình 1.6 Cường độ chịu nén ở 28 ngày tuổi của bê tông sử dụng bùn thay thế xi măng ở mức 8 và 33% trong nghiên cứu của Ez-zaki và cộng sự [9] Chú thích: + 0%, 8%, 33%: mẫu thay thế lần lượt 0%, 8%, 33% xi măng bằng bùn + R: mẫu không thay thế xi măng bằng bùn + L650: mẫu thay thế xi măng bằng bùn lấy từ Cống Lyvet và nung ở 650 oC + M650: mẫu thay thế xi măng bằng bùn lấy từ Vịnh Mont Saint Michel và nung ở 650 oC + S650: mẫu thay thế xi măng bằng bùn trộn với vỏ hàu và nung ở 650 oC + S850: mẫu thay thế xi măng bằng bùn trộn với vỏ hàu và nung ở 850 oC Safhi và cộng sự [10] đã sử dụng bùn nạo vét từ Cảng Dunkrik (Pháp) để thay thế 0, 10 và 20% xi măng bằng bùn. Bùn được xử lý qua các giai đoạn sau: sấy ở nhiệt độ 60 oC và sàng để lấy các hạt mịn nhỏ hơn 2 mm, nung ở 800 oC trong 1 giờ, và sau đó nghiền mịn để thu các hạt nhỏ hơn 45 μm.
Kết quả cho thấy cường độ chịu nén của các mẫu bê tông đều đạt cường độ chịu nén ở 28 ngày tuổi từ 50 MPa trở lên, cụ thể là mẫu thay thế 0, 10 và 20% có cường HVTH: DƯƠNG NGỌC PHI LONG – MSHV: 1970282 7 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. BÙI PHƯƠNG TRINH TS. LƯU XUÂN LỘC độ lần lượt là 56, 57 và 54 MPa (xem Hình 1. Có thể nhận thấy rằng hàm lượng bùn thay thế tối ưu là 10%.7 Cường độ chịu nén của mẫu bê tông ở 3, 28, 56 và 91 ngày tuổi trong nghiên cứu của Safhi và cộng sự [10] Chú thích: + Compressive strength (MPa): cường độ chịu nén (MPa) + 3d, 28d, 56d, 91d: độ tuổi của mẫu bao gồm 3, 28, 56, 91 ngày tuổi + SSC-R: mẫu không thay thế xi măng bằng bùn + SSC-1: mẫu thay thế 10% xi măng bằng bùn + SSC-2: mẫu thay thế 20% xi măng bằng bùn + Sử dụng bùn từ nhà máy xử lý nước thay thế một phần xi măng Gomes và cộng sự [11] đã sử dụng bùn ở nhà máy xử lý nước thải Cascade ở Katoomba, NSW, Úc để thay thế 1, 2, 5 và 10% xi măng nhằm đánh giá về cường độ chịu nén của bê tông sử dụng bùn.
Bùn được xử lý qua giai đoạn sấy ở 105 oC trong 24 giờ và sau đó được nghiền mịn để lấy hạt có kích thước nhỏ hơn 300 μm. Kết quả cho thấy cường độ chịu nén ở 28 ngày HVTH: DƯƠNG NGỌC PHI LONG – MSHV: 1970282 8 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. BÙI PHƯƠNG TRINH TS. LƯU XUÂN LỘC tuổi của các mẫu thay thế 1, 2, 5 và 10% lần lượt là 55.51 MPa (xem Hình 1.
Nhận thấy rằng cường độ chịu nén của các mẫu thay thế bùn giảm khi hàm lượng bùn thay thế tăng lên.