CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN ĐỀ TÀI Vấn đề về phát thải tro xỉ và tác động của tro xỉ đến môi trường Thực trạng phát thải tro xỉ của các nhà máy nhiệt điện đốt than Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay, các ngành công nghiệp của nước ta đang được đầu tư, phát triển một cách mạnh mẽ. Cùng với việc sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm, năng lượng, nhiên liệu phục vụ sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp cũng làm tăng ngày càng nhiều các chất thải. Ngành nhiệt điện là một trong những ngành phát sinh chất thải lớn.
Tính trung bình, cứ sản xuất ra 1kw.h điện sử dụng nhiên liệu than cám, sẽ thải ra khoảng từ 0,5-1,75 kg tro, xỉ. Theo tài liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, các nhà máy nhiệt điện đang vận hành tại Việt Nam tính đến năm 2018 là 28 nhà máy, ước tính năm 2020 tiêu thụ khoảng 60 triệu tấn than/ năm và phát sinh khoảng 20,5 triệu tấn tro, xỉ, thạch cao. Theo quy hoạch phát triển ngành điện thì từ nay đến năm 2030, sản lượng điện sản xuất bằng nhiệt điện sử dụng than còn tiếp tục tăng. Nghĩa là, lượng chất thải tro, xỉ nhiệt điện sẽ còn tiếp tục tăng thêm.
Các chất thải này đang tạo sức ép ngày càng lớn lên môi trường và chiếm diện tích đất để tồn chứa ngày càng lớn. Quá trình đốt than để vận hành các nhà máy nhiệt điện (NMNĐ) thải ra các sản phẩm cháy bao gồm: Tro đáy (xỉ đáy lò) hay còn gọi là xỉ, là các hạt thô, to thu được ở đáy lò đốt; Tro bay, là các hạt tro mịn bay lên được thu lại tại lọc bụi. Thông thường lượng tro bay chiếm khoảng 80 - 90%, còn xỉ chỉ chiếm khoảng 10 - 20%. Quy hoạch ngành điện đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 (gọi tắt là Quy hoạch điện VII) đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2011.
Theo Quy hoạch này thì số lượng, công suất sản xuất điện của các NMNĐ than ở nước ta trong thời gian sắp tới là rất lớn.1 dưới đây tổng hợp công suất điện của các NMNĐ ở Việt Nam theo Quy hoạch điện VII [5]. Công suất nguồn điện theo Quy hoạch điện VII Trong đó Tổng công Nhiệt điện đốt Tiêu thụ TT Năm suất điện, Nhiệt điện đốt than tầng sôi, than, tấn/năm MW than phun, MW MW 1 2020 35.000 HVTH: Trần Hoàng Văn - MSHV: 2070672 4 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: TS. LÊ VĂN QUANG - TS. BÙI ĐỨC VINH Ghi chú: Lượng than tiêu thụ dự kiến trong Bảng trên được tính trên cơ sở: - Các dự án theo Quy hoạch điện VII được đầu tư, vận hành đúng tiến độ, công suất; - Số giờ chạy trong năm: 6000 giờ.
Quy hoạch điện VII triển khai, đến năm 2030, tổng công suất nguồn nhiệt điện than là 74.876 MW sẽ thải ra khối lượng tro, xỉ hàng năm khoảng trên 38 triệu tấn tro xỉ. Căn cứ vào công suất các nhà máy, nguồn than cung cấp dự kiến (than trong nước, hoặc than nhập khẩu hay pha trộn cả hai loại), chất lượng than trong nước, chất lượng than nhập khẩu dự kiến, lượng tro, xỉ thải ra của các nhà máy nhiệt điện than được dự báo như thống kê trong Bảng 1. Khối lượng tro, xỉ phát sinh theo tính toán qua các năm theo lộ trình xây dựng và vận hành các nhà máy nhiệt điện theo Quy hoạch điện VII Khối lượng tro, xỉ thải một số năm theo quy hoạch điện VII, TT Năm tấn/năm Lò hơi đốt tầng sôi Lò hơi đốt than phun Tổng cộng 1 2020 6.500 Ghi chú: Lượng tro, xỉ phát sinh trong Bảng trên được tính trên cơ sở: - Các dự án theo Quy hoạch điện VII được đầu tư, vận hành đúng tiến độ, công suất. - Số giờ chạy trong năm: 6000 giờ.
- Than trong nước có độ tro trung bình 35%, suất tiêu hao than 0,5 kg/kWh - Than trộn có độ tro trung bình 25%, suất tiêu hao than 0,5 kg/kWh - Than nhập khẩu có độ tro trung bình 15%, suất tiêu hao 0,45 kg/kWh. Thống kê và dự tính lượng tro xỉ nhiệt điện qua các năm Tổng lượng tro xỉ NĐ Tổng lượng tro xỉ NĐ tích trữ TT Năm phát sinh hàng năm nếu không được tái sử dụng (tấn/năm) (tấn) 1 2016 15.000 Trong thời gian qua, thực tế cho thấy việc khai thác sử dụng xỉ đáy lò tương đối tốt, xỉ được các đơn vị thu mua trực tiếp từ nhà máy hoặc được vớt, tách dùng để sản xuất vật liệu xây dựng như sản xuất xi măng, vật liệu không nung, san lấp nền móng và một số việc HVTH: Trần Hoàng Văn - MSHV: 2070672 5 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: TS. LÊ VĂN QUANG - TS. BÙI ĐỨC VINH khác.
Vấn đề cần tập trung giải quyết là xử lý, sử dụng tro bay trong sản xuất vật liệu xây dựng và mở rộng vào các mục đích khác. Theo Quyết định số 1696/QĐ-TTg ngày 23/9/2014 của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp thực hiện xử lý, sử dụng tro, xỉ, thạch cao của các nhà máy nhiệt điện, hóa chất phân bón để làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng, các nhà máy nhiệt điện đã triển khai việc tiêu thụ tro, xỉ, thạch cao thải ra với các hình thức khác nhau như: Chủ động xây dựng dây chuyền xử lý tro, xỉ, thạch cao (tuyển ướt), xây dựng dây chuyển sản xuất vật liệu không nung; bán và cho không tro, xỉ, thạch cao cho các cá nhân sử dụng, đơn vị thu mua, các nhà máy xi măng, các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng… Tuy nhiên cũng theo số liệu điều tra thực tế và các đơn vị báo cáo, tổng lượng tro xỉ, thạch cao đã được tiêu thụ không lớn, chỉ vào khoảng 25% - 30% so với tổng lượng được thải ra hàng năm và không phân bố đều đối với từng nhà máy. Có những nhà máy đã bán hầu hết lượng xỉ, tro bay và thạch cao thải ra, trong khi đó có những nhà máy phải thải toàn bộ tro, xỉ, thạch cao ra bãi chứa hoặc tro, xỉ, thạch cao tại bãi chứa không được các đơn vị xử lý, sử dụng thu mua. Lý giải vấn đề này có một số nguyên nhân sau: - Các nhà máy sử dụng công nghệ than phun sẽ tách được thạch cao ra khỏi tro bay, do đó ngoài việc tiêu thụ được tro bay thì nếu thạch cao đủ tiêu chuẩn (hàm lượng thạch cao CaSO4.2H2O lớn) sẽ dễ dàng tiêu thụ vào các mục đích khác nhau như làm phụ gia cho sản xuất xi măng, vật liệu xây không nung… Trong khi đó đối với các nhà máy sử dụng công nghệ CFB (đốt than tầng sôi), đá vôi được đưa vào đốt cùng với than để khử lưu huỳnh (SO2) trong khói, do đó thạch cao được tạo ra sẽ lẫn vào tro bay và không thể tách thạch cao ra khỏi tro bay, đồng thời hàm lượng SO3 và CaOtd tương đối cao (15% - 20%) và mất khi nung (MKN) lớn có màu đỏ, nâu dẫn đến việc sử dụng vào sản xuất vật liệu xây dựng gặp nhiều khó khăn.
- Một số nhà máy ở khu vực gần biển (Nhiệt điện Quảng Ninh, Nhiệt điện Mông Dương 2…) do thiếu nước ngọt đã phải dùng nước mặn hoặc nước nhiễm mặn để vận hành hệ thống bơm thải xỉ ra bãi chứa dẫn tới tro, xỉ, thạch cao bị nhiễm mặn, gây khó khăn cho việc xử lý, sử dụng. - Thông thường tro bay tại nhà máy nhiệt điện có hàm lượng MKN < 12% được tiêu thụ gần hết trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng, tuy nhiên một số nhà máy thải ra tro bay có hàm lượng MKN trên dưới 5% (Nhiệt điện Vũng Áng 1) nhưng ở khu vực cách xa các đơn vị có tiềm năng sử dụng tro, xỉ, thạch cao với khối lượng lớn dẫn đến mặc dù tro HVTH: Trần Hoàng Văn - MSHV: 2070672 6 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: TS. LÊ VĂN QUANG - TS. BÙI ĐỨC VINH bay, xỉ, thạch cao đạt tiêu chuẩn sử dụng hoặc sau khi xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành để sử dụng làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng nhưng do chi phí vận chuyển cao dẫn tới giá thành cao hơn so với khoáng sản được khai thác tại chỗ.
- Có nhà máy do chất lượng than đốt làm cho tro bay và xỉ có mầu đỏ, nâu dẫn tới việc xử lý, sử dụng khó khăn. - Khi tro, xỉ, thạch cao không được các đơn vị thu mua hoặc có thể xử lý tại chỗ thì tất cả đều được hòa trộn với nước và bơm ra bãi thải dẫn tới sự lẫn lộn giữa tro, xỉ, thạch cao, gây khó khăn trong quá trình xử lý tiếp theo. Hiện nay đối với các nhà máy thuận lợi hơn trong việc tiêu thụ tro, xỉ, thạch cao thì đa số mới chỉ tập trung vào việc tiêu thụ về mặt số lượng đối với lượng tro, xỉ, thạch cao thải ra chứ chưa ý thức đến việc các đơn vị thu mua, xử lý, sử dụng có đảm bảo được các tiêu chuẩn về vệ sinh môi trường, các tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành để sản xuất vật liệu xây dựng hay không. Tác động của tro xỉ đến môi trường Phần lớn tro, xỉ than trên thế giới được tồn chứa dẫn đến gánh nặng kinh tế và môi trường, tác động đáng kể đến sinh thái và xã hội nên cần có các ứng dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau để thúc đẩy việc sử dụng tro, xỉ nhiệt điện.
Việc tăng chi phí tồn chứa và thiếu hụt tài nguyên thiên nhiên đã dẫn đến việc phát triển các công nghệ sử dụng tro, xỉ nhiệt điện trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng như: tro bay làm phụ gia cho xi măng, phụ gia cho bê tông, vật liệu san lấp… Tro, xỉ ở hầu hết các nhà máy nhiệt điện được bơm cùng với nước ra bãi thải. Các kết quả điều tra cho thấy môi trường đất và nước ở quanh bãi thải tro, xỉ bị ảnh hưởng nghiêm trọng với hàm lượng các chất độc hại như kim loại nặng rất cao. Bản thân ngành điện và các nhà máy không có chủ trương khai thác tro, xỉ, hoặc không có điều kiện khai thác. Người dân quanh khu vực các bãi xỉ thải đang khai thác một cách tự phát, chủ yếu là làm gạch xây nhà hoặc bán lại cho các cơ sở có đầu tư hệ thống tuyển tro.
Việc tự phát, mạnh ai nấy làm dẫn đến lộn xộn trong và quanh khu vực bãi thải cùng với vận chuyển rơi vãi đã khiến không gian cả khu vực luôn mù mịt bụi xỉ than, ô nhiễm môi trường.