Đặt vấn đề bài toán Ngày nay, sự phát triển nhanh chóng của mạng Internet kèm theo khối lượng dữ liệu khổng lồ, đa dạng và tăng trưởng không ng ng. Với sự xuất hiện, và phát triển của công nghệ mạng, người sử dụng ngày càng tăng lên, dữ liệu trên mạng internet đã trở thành một cơ sở dữ liệu phi cấu trúc lớn nhất mà con người có thể truy cập. Bắt đầu t năm 1990, World Wide Web đã phát triển về quy mô theo cấp số nhân. Tính đến tháng 01/2021, thế giới có khoảng 4,66 tỷ người dùng Internet, chiếm 59,5% dân số thế giới [18].
Ước tính cứ mỗi ngày có hơn 2 Exabyte (1018 byte) dữ liệu được tạo ra trên Internet, mỗi phút có 4,2 triệu câu lệnh tìm kiếm Google; trên Facebook, có thêm 400 người dùng mới, hơn 200.000 bức ảnh được tải lên; trên Twitter, có 480.000 tài khoản được xây dựng; trên Youtube, 72 tiếng video được tải lên, 4,7 triệu video được xem [23]… Năm 2019, ước tính WWW chứa khoảng 4,4 Zettabytes (1 ZB = 10007 byte = 1021 byte = 1000000000000000000000 byte = 1000 Exabyte = 1 Triệu Petabyte = 11000000000 (số) Terabyte = 11,000,000,000,000 Gigabyte) tài liệu web có thể lập chỉ mục công khai trải khắp thế giới trên hàng nghìn máy chủ, ước tính đến năm 2025 con số đó lên tới 175 ZB. Đối với dữ liệu trên mạng internet, chủ yếu là nội dung do người dùng tạo (UGC), trong đó, dữ liệu là video được quay bằng thiết bị cầm tay, thiết bị điều khiển t xa, như: điện thoại thông minh, camera, flycam… của người dùng ngày càng chiếm khối lượng lớn. Mọi người có thể chỉnh sửa video cho nhiều mục đích khác nhau, kể cả ủng hộ vấn đề chính trị hoặc giải trí, nhưng những video giả mạo như vậy đặt ra một thách thức lớn cho các tổ chức tin tức, vì việc đăng tải các video giả mạo có thể gây tổn hại nghiêm trọng đến danh tiếng, quyền lợi, sức khỏe của các tổ chức, cá nhân và thậm chí là cả xã hội. Điều này tạo ra nhu cầu cấp thiết về các công cụ có thể hỗ trợ các chuyên gia xác định và tránh nội dung video bị giả mạo.
Các video này có thể chứa nội dung thực được quay tại hiện trường liên quan Luan van 6 tới các sự kiện và thường không chứa việc chuyển cảnh quay nào như trong các video, clip, film chuyên nghiệp, mà chỉ bao gồm một cảnh quay duy nhất. Đây là một khía cạnh quan trọng, vì một video chứa nhiều cảnh là video đã được chỉnh sửa, điều này có thể làm giảm giá trị của video đó khi được xem xét để trở thành một tài liệu chứng cứ phục vụ điều tra. Các video thường được tải lên trên các nền tảng chia sẻ phương tiện truyền thông xã hội (ví dụ: Facebook, YouTube), có nghĩa là chúng thường ở định dạng H.264 và có độ phân giải thấp và được lượng tử hóa tương đối mạnh. Tình hình trên đã đặt ra nhiều yêu cầu đối với việc phân tích, xử lý video phục vụ công tác điều tra, giám định chứng cứ, một trong những yêu cầu nổi bật là cung cấp các công nghệ hiện đại nhất để hỗ trợ phân tích giám định video, đặc biệt là phát hiện và xử lý cục bộ các thao tác chỉnh sửa đối với video.
Yêu cầu này không chỉ ngày càng cấp thiết tại Việt Nam mà còn là yêu cầu chung của nhiều nước trên thế giới. Khi nhắc đến việc phát hiện các hoạt động chỉnh sửa đối với video đồng nghĩa với việc chúng ta đề cập đến nhiệm vụ sử dụng các thuật toán phân tích video để phát hiện xem video có bị giả mạo bởi các phần mềm xử lý video hay không và nếu có, cần đưa ra các thông tin cụ thể về quá trình giả mạo (ví dụ: vị trí trong video mà giả mạo nằm ở đâu và loại giả mạo đã diễn ra). Việc phát hiện thao tác độc hại trong các phương tiện kỹ thuật số vẫn còn nhiều hạn chế, việc phân biệt dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép so với hình ảnh gốc ngày càng trở nên khó khăn khi các phương pháp giả mạo hình ảnh tinh vi mới được xuất hiện và phổ biến. Vì các công cụ giả mạo ngày càng thông minh, nên một hệ thống phát hiện giả mạo kỹ thuật số đáng tin cậy đang ngày càng trở nên quan trọng trong các lĩnh vực an ninh công cộng, cũng như đối với các lĩnh vực khác, như: điều tra tội phạm, pháp y, dịch vụ tình báo, bảo hiểm, báo chí, nghiên cứu khoa học, hình ảnh y tế và giám sát.1 là một ví dụ cụ thể, cho thấy việc đối tượng đã sao chép một số ô tô và dán vào các khung giống nhau, nhằm che đi một số thông tin gốc; trong đó, hàng trên hiển thị khung video gốc và hàng dưới hiển thị phiên bản bị giả mạo tương ứng.
Luan van 7 Hình 1. Ví dụ trùng lặp đối tƣợng (frame gốc: trái; frame giả mạo: phải) Tuy nhiên, các hành vi chỉnh sửa hình ảnh không phải lúc nào cũng độc hại đối với việc giám định video [13]. Bên cạnh những trường hợp có thể xảy ra như chèn hoặc xóa người, đồ vật quan trọng, có thể làm thay đổi nội dung của video và đây là những trường hợp mà giám định video đề tài chủ yếu nhắm đến, còn có rất nhiều kiểu giả mạo khác có thể diễn ra trên video nhưng không ảnh hưởng lớn tới tính chính xác của chứng cứ. Chúng có thể bao gồm các hoạt động như như điều chỉnh độ sắc nét hoặc màu sắc vì lý do thẩm mỹ cho toàn bộ video hoặc việc bổ sung các biểu tượng và hình mờ trên video.
Tất nhiên, các bước xử lý hậu kỳ như vậy theo ngữ cảnh thực tế làm giảm phần nào tính chính xác và hiệu quả của video, nhưng trong những trường hợp như vậy, video vẫn là bằng chứng khả dụng duy nhất về hành vi vi phạm, chúng vẫn luôn là tài liệu vô cùng quan trọng đối với các cơ quan điều tra. Việc phát hiện các thao tác chỉnh sửa trong video là một nhiệm vụ đầy thách thức vì các thao tác giả mạo để lại dấu vết trên video - thường không thể nhìn thấy bằng mắt thường và liên quan đến một số thuộc tính của nhiễu ảnh cơ bản hoặc các mẫu nén của video và dấu vết đó chỉ có thể được phát hiện bằng các thuật toán thích hợp nhưng hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều phức tạp trong cách tiếp cận này. Nhìn Luan van 8 chung, có nhiều kiểu hành vi chỉnh sửa khác nhau có thể diễn ra, như: xóa đối tượng, sao chép đối tượng t cùng một cảnh hoặc t một video khác, chèn nội dung tổng hợp, chèn hoặc xóa khung, chọn khung hoặc thay đổi màu sắc/độ sáng toàn cục… mỗi loại có khả năng để lại các loại dấu vết khác nhau trên video. Hơn nữa, một vấn đề khác của bài toán thực tế là việc nén video bao gồm một số quy trình khác nhau, tất cả đều có thể phá vỡ các dấu vết giả mạo.
Đặc biệt là trong trường hợp nội dung của người dùng mạng trực tuyến, chúng thường được đăng tải trên mạng xã hội, có nghĩa là chúng đã được mã hóa lại nhiều lần và thường có chất lượng thấp, do ảnh hưởng độ phân giải của camera hoặc do nhiều bước nén khi đăng. Vì vậy, để thành công, các chiến lược phát hiện chỉnh sửa video thường cần phải có khả năng phát hiện các dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép rất yếu và rời rạc. Cuối cùng, một vấn đề làm phức tạp thêm nhiệm vụ là việc chỉnh sửa không độc hại. Như đã đề cập ở trên, đôi khi video được tạo ra có chứa các biểu tượng hoặc hình mờ do mục đích cá nhân của người quay/tạo video.
Mặc dù những điều này không cấu thành việc phá hủy hoặc giả mạo video, nhưng chúng là kết quả của quá trình chỉnh sửa tương tự với quá trình giả mạo và do đó có thể dẫn đến các kết luận, đánh giá không chính xác của thuật toán hệ thống hoặc cũng có thể là một trong những yếu tố che đi các dấu vết của bộ chỉnh sửa độc hại khác. Với những thách thức này, các nhà nghiên cứu đã và đang nghiên cứu xây dựng, triển khai nhiều hệ thống theo các hướng khác nhau nhằm hướng hỗ trợ các chuyên gia trong việc xác định các video giả mạo hoặc nâng cao hiện đại hóa lĩnh vực kỹ thuật hình sự. Các nghiên cứu trong giám định hình ảnh là tiền đề hết sức cần thiết cho mở rộng nghiên cứu các thuật toán hay "bộ lọc" nhằm xử lý video và giúp người dùng cụ thể hóa các điểm mâu thuẫn đáng ngờ trong video. Những bộ lọc này hướng tới khả năng đưa ra kết quả được hiển thị cho người dùng, giúp họ xác minh video một cách trực quan.
Đi kèm với đó, việc sử dụng kiến trúc mạng nơ-ron nhân tạo (deep neuron) để phát hiện những điểm không nhất quán trong video và phân loại video là "gốc" hoặc bị giả mạo vào xây dựng hệ thống tự động Luan van 9 hóa quá trình phát hiện cũng là một nội dung tất yếu của công nghệ tự động hóa, một bước tiến của Trí tuệ nhân tạo (AI). Một số nội dung cơ bản liên quan bài toán Giám định hình ảnh và video về cơ bản là các lĩnh vực phụ của xử lý hình ảnh và video, do đó một số khái niệm t các lĩnh vực xử lý hình ảnh/video đặc biệt quan trọng đối với nhiệm vụ của đề tài. - Một hình ảnh (hoặc khung hình - frame) có thể được coi là một mảng 2 chiều của các bộ giá trị màu (R, G, B), tuy nhiên, nội dung màu thực tế của hình ảnh thường không liên quan đến giám định. Thay vào đó, chúng ta thường quan tâm đến các đặc điểm khác ít nổi bật hơn, như độ nhiễu, màu sắc được chuẩn hóa độ chói sáng hoặc độ sắc nét của hình ảnh.
- Giới hạn nhiễu hình ảnh (image noise) đề cập đến sự thay đổi ngẫu nhiên của thông tin về độ sáng hoặc màu sắc, nói chung là sự kết hợp của các đặc tính vật lý của thiết bị chụp (như cấu trúc của ống kính) và độ nén hình ảnh (trong trường hợp nén bị mất là tiêu chuẩn). Một cách để loại bỏ nhiễu hình ảnh là loại bỏ phiên bản được lọc nhiễu thấp, phần còn lại của hoạt động này có xu hướng bị chi phối bởi nhiễu hình ảnh. Trong trường hợp xử lý độ sáng thay cho việc xử lý bởi thông tin màu sắc của hình ảnh, thì chúng ta gọi là đầu ra của phương pháp đó là nhiễu độ sáng (luminance noise) [13].