Chương 1 – Kiến trúc chung của máy tìm kiếm, thành phần chỉ số trong máy tìm kiếm. Chương này giới thiệu những nội dung cơ bản nhất, cung cấp một cách nhìn khái quát về kiến trúc của máy tìm kiếm trong mô hình hệ thống thông tin. Đồng thời luận văn cũng mô tả chi tiết các thành phần của cấu trúc chỉ số trong máy tìm kiếm và nhu cầu nén chỉ số cho máy tìm kiếm. Chương 2 – Các phương pháp nén chỉ số trong máy tìm kiếm.
Nội dung của chương này xem xét và đánh giá một số phương pháp nén chỉ số cơ bản và cập nhật. Ban đầu nội dung chương mô tả cấu trúc chỉ số ngược và phân tích quy trình lập chỉ số ngược trong máy tìm kiếm. Từ đó đưa ra các phương pháp cập nhật và cải tiến để nén các tập chỉ số một cách tối ưu. Chương 3 – Tìm hiểu về Lucene.
Giới thiệu chi tiết về Lucene, các thành phần cơ bản trong Lucene, cấu trúc chỉ số trong Lucene và tối ưu hóa lập chỉ số trong Lucene. Chương 4 – Cài đặt thử nghiệm. Chương trình trình bày kết quả thực nghiệm nén chỉ số ngược trên cơ sở thuật toán nén Khoảng cách byte (VB code) và OptPFD. Chương trình cài đặt thử nghiệm được viết bởi ngôn ngữ Java trên nền Console.
Chương trình đã hoạt động cho kết quả để đánh giá 2 thuật toán nén, tuy nhiên do thời gian hạn chế nên luận văn chưa xây dựng được thuật toán vào trong máy tìm kiếm. Phần Kết luận. Trình bày tổng hợp các kết quả thực hiện luận văn và phương hướng nghiên cứu tiếp theo về các nội dung của luận văn. KIẾN TRÚC CHUNG CỦA MÁY TÌM KIẾM THÀNH PHẦN CHỈ SỐ TRONG MÁY TÌM KIẾM 1.1 Khái niệm bộ công cụ tìm kiếm thông tin 1.1 Tổng quan về hệ thống tìm kiếm Thuật ngữ tìm kiếm thông tin xuất hiện từ khá sớm, các thông tin thể hiện ở nhiều dạng khác nhau, có thể là dạng văn bản, âm thanh hoặc hình ảnh,vv.
Mà phổ biến nhất là tìm kiếm văn bản (bao gồm việc tìm kiếm hoặc sắp xếp văn bản), đặc biệt là trong các công cụ tìm kiếm. Nhiều lúc, thuật ngữ này được dùng như là toàn bộ quá trình từ việc xử lý văn bản tới việc phân lớp và tìm kiếm văn bản. Thuật ngữ tìm kiếm văn bản theo nghĩa bao gồm việc lập chỉ mục tài liệu, tìm kiếm và sắp xếp các văn bản tìm kiếm theo thứ tự liên quan đến yêu cầu người sử dụng (văn bản ở đây có thể là một File hoặc là một trang Web). Internet là một kho thông tin khổng lồ và phức tạp.
Thông tin trên các trang Web đa dạng về mặt nội dung cũng như hình thức. Tuy nhiên cùng với sự đa dạng và số lượng lớn thông tin như vậy đã nảy sinh vấn đề quá tải thông tin. Cùng với sự thay đổi và phát triển hàng ngày hàng giờ về nội dung cũng như số lượng của các trang Web trên Internet thì vấn đề tìm kiếm thông tin đối với người sử dụng lại ngày càng khó khăn. Đối với mỗi người dùng chỉ một phần rất nhỏ thông tin là có ích, chẳng hạn có người chỉ quan tâm đến trang Thể thao, Văn hóa mà không mấy khi quan tâm đến Kinh tế.
Người ta không thể tìm kiếm địa chỉ trang Web chứa thông tin mà mình cần, do vậy đòi hỏi cần phải có một trình tiện ích quản lý nội dung của các trang Web và cho phép tìm thấy các địa chỉ trang Web có nội dung giống với yêu cầu của người tìm kiếm. Theo tìm hiểu từ các nguồn thông tin khái niệm máy tìm kiếm (search engine) là một hệ thống được xây dựng nhằm tiếp nhận các yêu cầu tìm kiếm của người dùng (thường là một tập các từ khóa), sau đó phân tích yêu cầu này và tìm kiếm thông tin trong cơ sở dữ liệu được tải xuống từ Web và đưa ra kết quả là các trang web có liên quan cho người dùng. Bên cạnh đó có thể định nghĩa một hệ thống tìm kiếm thông tin là một chương trình phần mềm dùng để lưu trữ và quản lý thông tin nằm trong các tài liệu. Hệ thống này giúp người sử dụng tìm kiếm thông tin mà họ quan tâm.
Các hệ thống này không giống như các hệ thống trả lời câu hỏi, nó chỉ ra sự tồn tại và vị trí các tài liệu có chứa thông tin cần thiết. Một số tài liệu “tìm kiếm được” thỏa mãn yêu cầu của người sử dụng gọi là các tài liệu phù hợp hay tài liệu liên quan (relevanl document). Một hệ thống tìm kiếm hoàn hảo sẽ chỉ tìm và đưa ra các tài liệu liên quan mà không đưa ra z 11 các tài liệu không liên quan. Tuy nhiên các hệ thống này không tồn tại bởi các thể hiện tìm kiếm là không đầy đủ mà mức độ liên quan phụ thuộc vào quan điểm chủ quan của từng người.
Hai người sử dụng có thể đưa ra cùng một truy vấn với một hệ thống tìm kiếm thông tin và sau đó sẽ có những đánh giá khác nhau về mức độ liên quan trên các tài liệu đã tìm được. Cụ thể, người dùng gửi một truy vấn, dạng đơn giản nhất là một danh sách các từ khóa, và máy tìm kiếm sẽ làm việc để trả lại một danh sách các trang Web có liên quan hoặc có chứa các từ khóa đó. Phức tạp hơn, thì truy vấn là cả một văn bản hoặc một đoạn văn bản hoặc nội dung tóm tắt của văn bản. Một số máy tìm kiếm điển hình hiện nay: Yahoo, Google, Alvista, ASPSeek, VietSeek.2 Quy trình tìm kiếm thông tin Quy trình tìm kiếm thông tin nói chung thực hiện các vấn đề như biểu diễn, lưu trữ, tổ chức và truy cập đến các mục thông tin.
Việc tổ chức và biểu diễn thông tin giúp hệ thống tìm kiếm nhanh thông tin mà người dùng cần. Nhưng để mô tả đặc điểm thông tin yêu cầu của người sử dụng không phải dễ dàng. Vì thế, hệ thống tìm kiếm thông tin bao gồm ba quá trình cơ bản sau: Biểu diễn nội dung các tài liệu, biểu diễn yêu cầu của người sử dụng và so sánh hai biểu diễn này.1 – Quy trình tìm kiếm thông tin [1] Quá trình biểu diễn tài liệu được gọi là quá trình chỉ số hóa (indexing). Quá trình này có thể lưu trữ thực sự các tài liệu trong hệ thống, thông thường chỉ lưu trữ một phần tài liệu, chẳng hạn như phần tiêu đề và tóm tắt.
Quá trình biểu diễn yêu cầu người sử dụng gọi là quá trình biểu diễn truy vấn (query formulation process). Truy vấn biểu thị sự tương tác giữa hệ thống và người sử z 12 dụng, do đó quá trình này không chỉ đưa ra một truy vấn phù hợp mà còn phải thể hiện được sự hiểu biết về yêu cầu của người sử dụng. Sự thiết lập tự động các truy vấn liên tiếp được gọi là phản hồi độ liên quan (relevance feedback). So sánh truy vấn với tài liệu cũng được gọi là quá trình đối sánh (matching process) và cho kết quả là một danh sách các tài liệu được sắp xếp theo mức độ liên quan tới truy vấn.
Vậy để mô tả thông tin một cách rõ ràng đầy đủ, người sử dụng không thể trực tiếp yêu cầu các giao diện hiện thời của hệ thống tìm kiếm cung cấp thông tin cần dùng. Thay vào đó người sử dụng phải chuyển đổi thông tin yêu cầu này thành một truy vấn mà có thể được xử lý bởi hệ thống tìm kiếm (hoặc hệ thống IR). Thường thì phép chuyển đổi này tạo ra một tập hợp các từ khóa (hoặc các term chỉ số) mô tả khái quát yêu cầu của người sử dụng. Cho một truy vấn người dùng, mục đích chính của một hệ thống tìm kiếm là tìm kiếm thông tin mà có thể trở thành hữu ích hoặc phù hợp với người sử dụng.
Để đạt được hiệu quả đáp ứng thông tin yêu cầu của người dùng, hệ thống tìm kiếm phải bằng cách nào “hiểu” được các nội dung của thông tin (các văn bản) trong một tập hợp và sắp xếp chúng theo mức độ phù hợp với truy vấn. Sự “hiểu biết” về nội dung văn bản này bao gồm sự trích chọn cú pháp và ngữ nghĩa thông tin từ văn bản và sử dụng thông tin này để so khớp với thông tin người dùng. Cái khó là không chỉ hiểu để trích chọn thông tin này như thế nào mà còn là hiểu cách sử dụng nó để quyết định mối liên quan như thế nào. Do vậy khái niệm mức độ liên quan (revlevance) cũng là một phần quan trọng trong tìm kiếm tất cả các tài liệu liên quan với một truy vấn người dùng mặc dù việc tìm kiếm có thể đưa ra một tài liệu không thích hợp.
Vậy, tìm kiếm thông tin là một quá trình nhận dạng, xác định và chỉ ra các tài liệu liên quan dựa trên mô tả yêu cầu thông tin của người sử dụng. Việc tìm kiếm các tài liệu dựa trên nội dung thực sự của văn bản mà không phụ thuộc vào các từ khóa gắn với văn bản đó. Các công cụ tìm kiếm nổi tiếng hiện nay như Google, Altavista, Yohoo,. là những hệ tìm kiếm đưa ra danh sách các văn bản theo độ quan trọng của câu hỏi đưa vào.
Để xây dựng một hệ tìm kiếm văn bản có hiệu quả cao, trước hết các văn bản và truy vấn ở dạng ngôn ngữ tự nhiên phải được tiền xử lý và chuẩn hóa.3 Một số vấn đề trong tìm kiếm thông tin Kể từ những năm 40, các vấn đề trong việc lưu trữ thông tin và tìm kiếm thông tin đã thu hút sự chú ý rất lớn. Với một lượng thông tin khổng lồ thì việc tìm kiếm chính xác và nhanh chóng càng trở nên khó khăn hơn. Với sự ra đời của máy tính, rất nhiều z 13 ý tưởng lớn được đưa ra nhằm cung cấp một hệ thống tìm kiếm thông minh và chính xác. Tuy nhiên, vấn đề tìm kiếm sao cho hiệu quả vẫn chưa được giải quyết.
Về nguyên tắc, việc lưu trữ thông tin và tìm kiếm thông tin thì đơn giản. Giả sử có một kho chứa các tài liệu và một người muốn tìm các tài liệu liên quan đến yêu cầu của mình. Người đó có thể đọc tất cả các tài liệu trong kho, giữ lại các tài liệu liên quan và bỏ đi các tài liệu không liên quan. Rõ ràng giải pháp này không thực tế bởi vì tốn rất nhiều thời gian.
Với sự ra đời của máy vi tính tốc độ cao, máy tính có thể “đọc” thay cho con người để trích ra các tài liệu có liên quan trong toàn bộ tập dữ liệu.