chương I. KỸ THUẬT SIÊU ÂM DOPPLER 1. Nguyên lí chung về siêu âm Doppler. Hiệu ứng Doppler Hiệu ứng Doppler được tìm ra vào năm 1845 do Christian Johann Doppler (1803 — 1853), hiệu ứng này được phát biểu như sau: - Nếu sóng siêu âm phát ra từ một nguồn phát có định đến một đầu thu có định thi tan số thu bang tan sé phat - Nếu có sự chuyển động tương đối giữa đâu thu và đâu phát thì tần số mà đầu thu nhận được khác với tan số tại nguồn phát.
Cụ thê, tân số tại đâu thu lớn hơn (nhỏ hơn) tấn sỐ sóng siêu âm tại đâu phát khi đâu thu và đâu phát chuyên động lai gan nhau (ra xa nhau). Giả thiết rằng nguồn và đầu thu chuyển động trên cùng một đường thẳng. Khi đó, mối liên hệ giữa tần số /¿ của sóng âm tạo bởi nguồn phát chuyên động và tần số sóng f, thu duge tai đầu thu chuyển động xác định bởi công thức: cy Sn = “Ss C—V, Do v,,¥,%2m/s déi với dong chay mach mau, c~1500m/snén .,V„ <<€ VÌ vậy: fests Ss Thanh phan mau sé cé thé được triển khai theo khai triển nhị thức: -1 (1+ x)" =l+mx+"ữ—Ð 2 +. Đối với x<<l có thể bỏ qua các thành phần bậc cao nên: f= (1-").f, Cc Báo cáo cáp bộ năm 2007 7 Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo máy siêu âm Doppler xuyên sọ trong dé v,, =v, —v, là tốc độ tương đối của đầu thu so với nguồn phát.
Do vậy tần số Doppler hay độ lệch Doppler có dạng:. Vas ip Safe == Ss Nghĩa là tần số đo được tại đầu thu chuyển động xa khỏi nguồn có tần số nhỏ hơn tần số đo được tại nguồn phát và ngược lại khi đầu thu chuyên động về phía nguồn phát tần số đo được tại đầu thu lớn hơn tại đầu phát. Nguyên lý siêu âm Doppler: Khi một chùm sóng siêu âm với tần số xác định (cho phép đi qua được những chỗ mỏng nhất của hộp sọ, được gọi là cửa số thăm đò) tới các động mạch chính trong não, một phan song 4m sé bị phản xạ trên các yếu tố hữu hình trong mạch máu mà chủ yếu là hồng cầu. Sóng âm phản xạ nhận được tại bộ phận thu sóng với một tần số khác với chùm siêu âm phát đi.
Sự thay đổi tần số này là cơ sở xác định được độ lớn, hướng của vận tốc, hình ảnh đối tượng và thông thường là dùng để xác định dòng chảy của mạch máu trong cơ thê. Transducer Đầu phát Đầu thu Mạch máu Hình 1-1 Sự phản xạ của các tế bào máu Đối với trường hợp của khảo sát mạch máu, đầu phát và đầu thu là tĩnh, ngoài ra đầu phát và đầu thu có thể không cùng nằm trên một đường thẳng. Giả sử 6, là góc Báo cáo cáp bộ năm 2007 8 Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo máy siêu âm Doppler xuyên sọ tạo bởi hướng truyền tới và phương chuyển động của vật thể khảo sát, còn Ø là góc tạo bởi phương chuyền động của vật và hướng thu. Khi đó tốc độ vật tán xạ tương đối với đầu phát sẽ là: v.cos6, và tốc độ vật tán xạ tương đối với đầu thu sé 1a v.
Đầu phát «ˆ Đầu thu +. ` t 87 Nv Hinh 1-2 -Déu phat và đầu thu TAn sé Doppler sinh ra do vật tán xa/ phản xạ có thê tính được nếu giả thiết: e _ Vật tán xạ/phản xạ là đầu thu chuyển động rời xa đầu phát với tốc độ v.cos(,) e - Đầu thu chuyển động rời xa khỏi vật tán xạ/ phản xa với tốc độ v. Điều này tương đương với việc đâu thu chuyển động rời xa đầu phát với tốc độ v.cosØ, mặc dầu cả đầu phát và đầu thu đều đứng yên. Do vậy độ lệch Doppler sẽ là: Af =- Is” (95 +008) =—- I".
Khi 9 ~6,, ta có Ar=—>** sosø Cc trong đó v.cosØ là vận tốc tương đối của vật phản xạ /tán xạ so với dau thu/ phát. Từ công thức trên ta có thể suy ra vận tốc dòng chảy. Đây là công thức chú đạo dùng trong khảo sát vận tốc dòng chảy mạch máu.cosØ V6i fo=2-10MHz, Af nam trong phạm vi tần số nghe được từ 50Hz-10kHz. Phân tích các kết quả này, người ta có thể xác định được các chỉ số về vận tốc của các động mạch chính trong não.
Chính vì thế siêu âm xuyên sọ trở thành một phương pháp không chảy máu để đánh giá một cách nhanh chóng và liên tục về huyết động và diễn biến rối loạn tuần hoàn não. Báo cáo cáp bộ năm 2007 9 Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo máy siêu âm Doppler xuyên sọ 1. Đầu dò siêu âm Doppler và vị trí các cửa số thăm dò a. Đầu dò siêu âm Đây là một trong những phần quan trọng của một máy siêu âm nói chung.
Đầu dò có nhiệm vụ phát sóng siêu âm, nhận sóng siêu âm dội lại, xử lý và chuyển đổi thành các tín hiệu điện. Các đầu dò rất đa dạng về chúng loại và kích thước. Thông thường, đối với từng bộ phận trên cơ thê sẽ có những đầu dò tương ứng. Các đầu dò có thê được phân loại tương ứng với các kỹ thuật siêu âm: Siêu âm tổng quát (màu hay Doppler) - Siêu âm sản phụ với đầu đò TV- Siêu âm tim (màu) với đầu đò TEE - Siêu âm qua ngõ trực tràng TRUS - Siêu âm mô mềm: tuyến giáp, tuyến vú, mắt - Siêu âm mach mau Doppler — TCD - Siêu âm khớp cơ.
Đầu đò siêu âm có một ảnh hướng lớn đến chất lượng của thiết bị. Ta cần xét đến các nguyên lí lựa chọn tần số cho hệ sóng liên lục hoặc hệ sóng xung, từ đó tìm ra tan số âm tối ưu dé tinh toán đặc trưng tần số suy giảm cường độ sóng của mạch. Theo lý thuyết Rayleigh, cường độ của sóng tán xạ sẽ tỉ lệ với bậc bốn của tần số. Ta thường sử dụng một mô hình đơn giản: sự phụ thuộc giữa độ suy giảm và tần số giả thiết là tuyến tính, độ suy giảm tăng theo tân số.
Tán xạ ngược và vị trí đầu dò ảnh hưởng đến đặc trưng tần số — cường độ sóng siêu âm được tính theo biểu thức: I(f) = ae Trong đó: I, là cường độ của sóng phát, khi h = 0cm, a„ là hệ số tắt dần của biên độ sóng (đB/cmMHz), h là khoảng cách từ đầu dò tới dòng máu, b là hệ số, với các mô sinh học là 1.2 và đối với xương là 2. Khi đó, tần số sóng tối ưu là tần số để cường độ của sóng tán xạ ngược là lớn nhật, tương ứng với đáp ứng tần số cực dai, tan số này phụ thuộc vào vị trí cần khảo sát. Đặc trưng tần số được xác định nhờ phương trình trên, khi khoảng cách từ bộ chuyển đổi tới mạch máu biến thiên từ 1 đến 10cm, thì tần số tối ưu biến thiên từ 8 tới 1MHz phụ thuộc vào độ sâu của mạch máu. Báo cáo cáp bộ năm 2007 10 Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo máy siêu âm Doppler xuyên sọ b.
Cửa số thăm dò: Trong siêu âm Doppler xuyên sọ, vị trí đặt đầu dò rất quan trọng, người ta phải tìm các vị trí hộp sọ mỏng nhất dé dat đầu dò sao cho sóng siêu âm phát ra bị hấp thụ ít nhất và tới được mạch máu cần khảo sát. Có ba cửa số tham do: Transorbital, Transtemporal, Transforaminal trên Hình 1-3. TRANSORBITAL TRANSTEMPORAL TRANSFORAMINAL Hình 1-3: Vị trí các cửa số thăm dò Thông thường người ta sử dụng cửa số thăm dò là transtempotal (thăm dò qua khe khớp thái dương). Hình 1-4: Hình ảnh đặt đầu dò tại cửu số thăm dò Transtempotal Báo cáo cáp bộ năm 2007 11 Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo máy siêu âm Doppler xuyên sọ 1.
Một số kĩ thuật Doppler Các thiết bị Doppler nhìn chung đều gồm các phần chính: một đầu dò, khối phát, khối thu, một máy tính và một màn hình hiển thị. Khối phát tạo tín hiệu có dạng sóng liên tục hoặc dạng xung theo yêu cầu, gửi tín hiệu này đến đầu phát của đầu dò, đầu thu của đầu dò sẽ thu các tín hiệu phân xạ từ các tế bảo máu chuyền động và gửi đến khối thu của máy. Sau một số khâu xử lý trong khối thu, tín hiệu được đưa lên máy tính để xử lý, phân tích và đưa lên màn hình hiển thị (Hình 1-5). Khối phát Dau dò Máy tính Hình 1-5: Các thành phần cơ bản của một máy siêu âm Doppler Khối thu Hiện nay, có nhiều kiểu thiết bị khác nhau được chế tạo theo nguyên lí Doppler.
Các thiết bị này khác nhau về cách thức tạo ra sóng siêu âm, đó là siêu âm liên tục (Continuous Wave hay CW — Doppler) và siêu âm xung (Pulse Wave hay PW — Doppler). Ngoài ra còn có thiết bị Doppler màu hoặc Doppler năng lượng. Sau đây chúng tôi sẽ lần lượt dé cap tới các kỹ thuật Doppler thường được sử dụng, đồng thời nêu ra ưu điểm, nhược điểm của từng kỹ thuật Doppler này. +/ Siêu âm liên tục Đặc trưng của các thiết bị này: khuếch đại đải hẹp, xác định được hướng của đòng chảy, tín hiệu ra audio, 2 kênh phân tích phổ tín hiệu Doppler thời gian thực, biểu đỗ âm và các thông số chấn đoán của tốc độ máu được tính toán và thé hiện trên màn hiển thị.
Các khảo sát đã cho thấy việc sử dụng bộ lọc thông đải (2) cho phép giảm các yêu cau cho các thông số cho đáp ứng pha - tần số của giải điều chế, nhưng sinh ra 1 sai số phép đo khi tốc độ máu chậm, nhỏ hơn 0. Tín hiệu Doppler thu được sử dụng bộ giải điều chế vuông (3, 4, 5). Các bộ lọc (6, 7) loại bỏ một số thành phần từ tín hiệu Báo cáo cáp bộ năm 2007 12 Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo máy siêu âm Doppler xuyên sọ nhận về. Bộ dịch pha (8) và bộ tổng (9, 10) tạo ra tín hiệu âm thanh.
Đầu dò tạo ra tín hiệu âm tập trung theo hướng trục. Sơ đồ khối của thiết bị siêu âm liên tục: o Monitor Controller J Hình 1-6-Module chức năng chính của thiết bị siêu âm liên tục Nhược điểm của kỹ thuật này là không nhận biết được tọa độ của điểm phản xạ. Ưu điểm là có thể đo được những vận tốc rất lớn mà phương pháp siêu âm xung không đo được. +/ Siêu âm xung Thiết bị này có đầu dò phát xung và thu xung phản xạ từ các tế bào máu hoặc các vật phán xạ di chuyên trong mạch máu.