CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Phân bón là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng hàng đầu góp phần vào việc nâng cao năng suất, sản lượng cũng như chất lượng của sảm phẩm cây trồng. Trong những thập kỷ qua, năng suất cây trồng đã không ngừng tăng lên, ngoài vai trò của bộ giống còn có tác dụng quyết định của phân bón. Các giống mới cũng chỉ phát huy được tiềm năng năng suất cao khi được bón đủ phân và bón hợp lý cho từng loại cây trồng.
Trong nền nông nghiệp thế giới cũng vậy, việc ra đời của phân hóa học đã làm năng suất cây trồng tăng lên, hầu hết các loại cây trồng chỉ đạt năng suất cao khi được bón phân cân đối và hợp lý. Trong đất lượng dinh dưỡng sẽ không đủ để cung cấp cho cây trồng sinh trưởng phát triển tốt và đạt năng suất cao, chất lượng tốt. Do vậy, bón phân để cung cấp đủ nhu cầu dinh dưỡng cho cây trồng là hết sức cần thiết. Việc bón phân cho cây phụ thuộc đối tượng cây trồng, loại đất, mùa vụ cụ thể, xem xét điều kiện thời tiết, khí hậu.
Ngoài ra còn phải xem xét đến hệ thống luân canh, chế độ canh tác, hệ thống nông nghiệp và loại phân đem bón. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới Hiện nay trên thế giới có khoảng 114 quốc gia và vùng lãnh thổ trồng lúa với diện tích khoảng 162,1 triệu ha, điều đó cho thấy cây lúa đã trở thành một trong những cây lương thực quan trọng hàng đầu trong ngành nông nghiệp. Vì vậy sản xuất lúa được nhiều nước trên thế giới quan tâm, đầu tư sản xuất.
Tình hình sản xuất lúa trên thế giới những năm gần đây được thể hiện qua bảng 1. Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới những năm gần đây Diện tích Sản lượng Năm Năng suất (tạ/ha) (triệu ha) (triệu tấn) 2017 163,480 45,95 751,120 2018 163,888 46,44 761,025 2019 160,518 46,93 753,286 2020 163,093 47,16 769,228 2021 165,251 47,64 787,294 Nguồn: FAOSTAT, 10/2022 Diện tích lúa của thế giới trong 5 năm gần đây (2017-2021) tăng từ 163,480 triệu ha lên đến 165,251 triệu ha. Từ năm 2017 - 2018 diện tích trồng lúa tăng từ 163,480 triệu ha (năm 2017) lên 163,888 triệu ha (năm 2018), tăng 0,408 triệu ha so với năm 2017, tương đương 0,7%. Tuy nhiên, năm 2019 diện tích lúa giảm xuống còn 160,518 triệu ha, giảm 3,370 triệu ha so với năm 2018, tương đương 2,1%.
Năm 2020 và năm 2021, diện tích lúa liên tục tăng, năm 2020, diện tích lúa tăng hơn so với năm 2019 là 2,575 triệu tấn, tương đương 1,6%. Năm 2021 diện tích trồng lúa của thế giới đạt cao nhất là 165,251 triệu ha và tăng so với năm 2020 là 2,158 triệu ha, tương đương 1,3%. Năng suất lúa trên thế giới những năm gần đây tương đối ổn định dao động từ 45,95 tạ/ha đến 47,64 tạ/ha. Năm 2021 năng suất lúa đạt cao nhất là 47,64 tạ/ha và thấp nhất là năm 2017 đạt 45,95 tạ/ha.
Sự chênh lệch năng suất giữa các năm không đáng kể. Sản lượng lúa trong những năm gần đây có những biến động nhỏ. Trong vòng 5 năm từ năm 2017 - 2021 sản lượng lúa tăng 36,174 triệu tấn, tương đương với 4,8%. Năm 2021, sản lượng lúa đạt lớn nhất 787,294 triệu tấn.
Sở dĩ, trong những năm từ năm 2017 đến năm 2021 năng suất và sản lượng trồng lúa tăng là do diện tích trồng lúa trong những năm gần đây cũng tăng lên và do người trồng lúa đã ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật tiên tiến để phục vụ sản xuất. Nhưng đến năm 2019 sản lượng lúa giảm mặc dù năng suất vẫn tăng, 5 vì diện tích gieo trồng ngày càng thu hẹp, do tốc độ đô thị hoá ngày càng nhanh, đất nông nghiệp một phần bị chuyển đổi thành đất xây dựng khu công nghiệp, làm đường giao thông và các khu đô thị. Lúa có khả năng thích ứng rộng nên nó đã được trồng ở khắp năm châu lục. Trong đó, Châu Á có diện tích trồng lúa lớn nhất thế giới, tiếp đến là châu Phi, châu Mỹ và 2 khu vực có diện tích lúa thấp nhất là châu Âu và châu Úc.
Tình hình sản xuất lúa một số châu lục trên thế giới năm 2021 Diện tích Năng suất Sản lượng Khu vực (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Châu Á 143,066 49,50 708,148 Châu Âu 0,608 62,24 3,784 Châu Phi 15,829 23,49 37,189 Châu Mỹ 5,699 66,21 37,735 Châu Úc 0,050 87,40 0,437 Nguồn: FAOSTAT, 10/2023 Qua bảng 1.2 cho thấy: Châu Á là khu vực có diện tích trồng lúa lớn nhất thế giới. Năm 2021 diện tích lúa của Châu Á đạt 143,066 triệu ha, chiếm tới 86,57% tổng diện tích trồng lúa trên toàn thế giới. Năng suất lúa của châu Á không cao (49,50 tạ/ha), tuy nhiên do diện tích gieo trồng lớn nên sản lượng lúa tại châu lục này cao nhất đạt 708,148 triệu tấn, chiếm gần 90% sản lượng lúa của toàn thế giới. Châu Phi có diện tích lúa cao thứ 2 (15,829 triệu ha) sau châu Á, song do năng suất lúa của châu lục này thấp nhất thế giới (23,49 tạ/ha) nên sản lượng lúa chưa cao (37,189 triệu tấn).
Mặc dù diện tích lúa của Châu Mỹ không cao (5,699 triệu ha), chiếm 3,45%, đứng thứ 3 thế giới. Song do năng suất lúa của châu Mỹ cao thứ 2 trên thế giới (66,21 tạ/ha), do đó sản lượng lúa của châu lục này đạt 37,735 triệu tấn. 6 Châu Âu và châu Úc là 2 khu vực có diện tích trồng lúa thấp nhất (0,608 và 0,05 triệu ha) nhưng 2 khu vực này đạt năng suất cao trong tốp 3 thế giới (87,40 tạ/ha và 62,24 tạ/ha). Tình hình sản xuất lúa của một số nước trên thế giới năm 2021 Diện tích Năng suất Sản lượng Nước (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Trung Quốc 30,145 71,12 214,404 Thái Lan 11,244 29,87 33,582 Ấn Độ 46,379 42,14 195,425 Brazil 1,678 66,1 11,091 Italya 0,227 64,27 1,459 Australia 0,045 94,00 0,423 Nguồn: FAOSTAT, 10/2023 Qua bảng 1.3 cho thấy: Australia là nước có năng suất lúa cao hơn hẳn các nước còn lại, đạt 94,00 tạ/ha; tiếp đến là Trung Quốc có năng suất lúa đạt 71,12 tạ/ha.
Điều này có thể lý giải như sau: Australia là nước đi sâu về chọn, tạo những giống lúa thuần có chất lượng cao cùng với trình độ khoa học kỹ thuật phát triển, áp dụng cơ giới hóa gần như toàn bộ từ những khâu nhỏ nhất tới thu hoạch và bảo quản nên năng suất không ngừng tăng lên, Trung Quốc là nước đi đầu trong lĩnh vực lúa lai và có trình độ thâm canh cao. Mặc dù năng suất của Australia đạt cao nhất, song do diện tích trồng ít nên sản lượng lúa của Australia thấp (0,045 triệu tấn). Trung Quốc là nước có năng suất lúa cao thứ 2 thế giới nhưng do diện tích trồng lúa cao nhất nên sản lượng lúa của Trung Quốc đạt cao nhất thế giới (năm 2021 đạt 214,404 triệu tấn), tiếp đến là Ấn Độ (đạt 195,425 triệu tấn). Các nước Thái Lan, Brazil; Italya và Australia có sản lượng lần lượt đạt 33,582 triệu tấn; 11,091 triệu tấn; 1,459 triệu tấn và 0,423 triệu tấn.
Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam Cây lúa nước giữ vai trò chủ đạo trong việc cung cấp lương thực cho con người ở nhiều nước trên thế giới nói chung và ở nước ta lúa còn là một nông sản xuất khẩu mang lại giá trị cao cho nông nghiệp. Phương hướng sản xuất lúa của Việt Nam là tập trung khai thác, đầu tư thâm canh cho những vùng có điều kiện thuận lợi để cây lúa có thể phát huy tối đa tiềm năng của giống. Là nước có truyền thống sản xuất nông nghiệp, cây lúa đã gắn liền với đời sống dân tộc, với lịch sử dựng nước và giữ nước. Với điều kiện tự nhiên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, những đồng bằng châu thổ phì nhiêu, Việt Nam đã trở thành cái nôi sản xuất lúa gạo hàng đầu trong khu vực và trên thế giới.
Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam trong những năm gần đây Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2017 7,709 55,47 42,764 2018 7,571 58,18 44,046 2019 7,452 58,37 43,495 2020 7,223 59,20 42,759 2021 7,220 60,74 43,853 Nguồn: FAOSTAT, 10/2023 Số liệu bảng 1.4 cho thấy, diện tích trồng lúa của Việt Nam trong 5 năm gần đây có xu hướng giảm, dao động từ 7,709 triệu ha (năm 2017) xuống còn 7,220 triệu ha (năm 2021), giảm 0,489 triệu ha. Do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, 1 số diện tích trồng lúa được chuyển hướng sử dụng sang mục đích khác, bên cạnh đó một số diện tích đất trồng lúa không hiệu quả được chuyển sang trồng các cây trồng khác như ngô, đậu đỗ…. Giai đoạn 2017– 2021, năng suất lúa có xu hướng tăng lên, dao động từ 55,47 – 60,74 tạ/ha, đạt cao nhất năm 2021 (60,74 tạ/ha). 8 Do diện tích giảm, năng suất tăng không nhiều nên sản lượng lúa trong 5 năm gần đây dao động từ 42,764– 44,046 triệu tấn cơ bản là ổn định.
Sản lượng gạo xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam trong những năm gần đây Xuất khẩu Nhập khẩu Năm (nghìn tấn) (nghìn tấn) 2016 4.632,508 183,131 Nguồn: UN, 4/2022 Qua bảng 1.5 cho thấy: Trong những năm gần đây lượng gạo xuất, nhập khẩu biến động tương đối lớn. Về xuất khẩu gạo: Năm 2016 lượng gạo xuất khẩu đạt 4.811,188 nghìn tấn thì đến năm 2018 lượng gạo xuất khẩu chỉ đạt 2.892,114 nghìn tấn, giảm 1. Tuy nhiên đến năm 2019 và 2020 thì lượng gạo xuất khẩu lại tăng trưởng tương đương với năm 2017 với lượng 5.466,974 nghìn tấn (năm 2019) và 5. Về nhập khẩu: Năm 2016 lượng gạo nhập khẩu của Việt Nam đạt 86,933 nghìn tấn, đến năm 2019 lượng gạo nhập khẩu chỉ còn 51,991 nghìn tấn, giảm 34,942 nghìn tấn (tương đương 40%).
Đến năm 2020 thì lượng gạo nhập khẩu lại tăng lên đột biến với 183,131 nghìn tấn, tăng 96,196 nghìn tấn so với năm 2016 (tăng 110%) và tăng 131,140 nghìn tấn so với năm 2019 (tăng 252%) Xuất khẩu gạo của Việt Nam tăng trong những năm gần đây chính là động lực thúc đẩy sự phát triển sản xuất ngành lúa gạo trong thời gian tới. Diện tích, sản lượng lúa phân theo vùng của Việt Nam trong những năm gần đây Năm Diện tích (nghìn ha) Sản lượng (nghìn tấn) Vùng 2017 2018 2019 2020 2017 2018 2019 2020 ĐB sông Hồng 1.035,3 Trung du và miền núi 679,8 672,4 669,0 665,1 3.391,5 phía Bắc Bắc Trung Bộ và 1.695,2 Duyên hải miền Trung Tây Nguyên 243,4 245,6 243,7 246,9 1.413,7 Đông Nam Bộ 271,9 270,2 267,4 262,0 1.405,9 ĐB Sông Cửu Long 4.819,3 Nguồn: Niên giám thống kê (2022) Số liệu bảng 1.