CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về xi măng Pooc lăng 1.1 Xi măng Pooc lăng hỗn hợp Xi măng là chất kết dính thủy lực ở dạng bột mịn, khi trộn với nước thành dạng hồ dẻo, có khả năng đóng rắn trong không khí và trong nước nhờ phản ứng hóa lý, thành vật liệu dạng đá. Xi măng Pooc lăng (PC) là chất kết dính thủy lực, được chế tạo bằng cách nghiền mịn clinker xi măng Pooc lăng (sau đây gọi tắt là clinker) với một lượng thạch cao cần thiết. Trong quá trình nghiền có thể sử dụng phụ gia công nghệ nhưng không quá 1% so với khối lượng clinker. Xi măng Pooc lăng hỗn hợp (PCB) là chất kết dính thủy lực, được chế tạo bằng cách nghiền mịn clinker với một lượng thạch cao cần thiết và các phụ gia khoáng, có thể sử dụng phụ gia công nghệ (nếu cần) trong quá trình nghiền hoặc bằng cách trộn đều các phụ gia khoáng đã nghiền mịn với PC [6].
Clinker là bán thành phẩm chứa các pha (khoáng) có tính chất kết dính thủy lực như canxi silicat, canxi aluminat, và canxi fero aluminat với tỷ lệ xác định, nhận được bằng cách nung đến kết khối hay nóng chảy hỗn hợp các nguyên liệu xác định (phối liệu). Clinker dùng để sản xuất PCB có hàm lượng magie oxit (MgO) không lớn hơn 5%. Phụ gia khoáng để sản xuất PCB phải thỏa mãn các yêu cầu của TCVN 6882:2001 và quy chuẩn sử dụng phụ gia trong sản xuất xi măng. Phụ gia công nghệ gồm các chất cải thiện quá trình nghiền, vận chuyển, đóng bao và / hoặc bảo quản xi măng nhưng không làm ảnh hưởng xấu tới tính chất của xi măng, vữa và bê tông, hàm lượng phụ gia công nghệ trong xi măng không lớn hơn 1%.
Tổng lượng phụ gia khoáng (không kể thạch cao) trong PCB, tính theo khối lượng xi măng, không lớn hơn 40%, trong đó phụ gia đầy không quá 20%. 4 PCB bao gồm ba loại cơ bản là PCB30, PCB40, PCB50, trong đó PCB là ký hiệu quy ước cho PCB, các trị số 30, 40, 50 là cường độ nén tối thiểu của mẫu vữa chuẩn sau 28 ngày đóng rắn, tính bằng MPa.1 Thành phần hóa Thành phần hoá học của clinker, biểu thị bằng phần trăm khối lượng (%) các oxit có trong clinker, thường dao động trong các khoảng như trong bảng 1. Thành phần hóa học của clinker. CaO =62 ÷ 69% Fe2O3=0,1 ÷ 5% SO3=0,1 ÷ 0,5% SiO2 =17 ÷ 26% MgO=0,5 ÷ 5,0% K2O=0,3 ÷ 0,7% Al2O3= 4 ÷ 10% TiO2=0,1 ÷ 0,3% Na2O=0,1 ÷ 0,3%.
SiO2 =17 ÷ 26% MgO=0,5 ÷ 5,0% K2O=0,3 ÷ 0,7% Al2O3= 4 ÷ 10% TiO2=0,1 ÷ 0,3% Na2O=0,1 ÷ 0,3%. Trong đó: CaO, SiO 2, Al2O3, Fe2O3 là các oxit chính, chiếm từ 95 ÷ 97%; còn lại là các oxit và tạp chất khác nằ m trong phối liệu. Các oxit này chủ yếu do các nguyên, nhiên liệu sản xuất clinker cung cấp. Sự thay đổ i tỷ lệ giữa các oxit này sẽ làm tính chất của clinker thay đổi theo.
CaO là oxit quan trọng nhất trong clinker xi măng, tham gia tạo thành tất cả các khoáng chính trong xi măng. CaO phải kết hợp hoàn toàn với các oxit khác, không được nằm ở trạng thái tự do (nếu không sẽ gây nên hiện tượng kém ổn định thể tích của xi măng, phá vỡ cấu kiện xây dựng). Clinker chứa nhiều CaO tạo thành nhiều khoáng C3S làm cho xi măng phát triển cường độ nhanh, mác cao nhưng xi măng chứa nhiều CaO trong clinker sẽ tỏa nhiề u nhiệt khi đóng rắn, kém bền trong môi trường nước và các môi trường khác. SiO 2 là oxit quan trọng thứ hai, tham gia vào việc tạo ra hai khoáng chính là C3S và C2 S.
Nếu có quá nhiều SiO2 và CaO vừa đủ thì khoáng C2S sẽ tăng lên, xi măng đóng 5 rắn trong những ngày đầu chậm, nhưng thời gian lâu ngày nó sẽ phát triển cường độ và đảm bảo mác xi măng. Al2O 3 liên kết với CaO và Fe2 O3 tạo khoáng aluminat và alumoferit canxi, làm cho xi măng đóng rắn nhanh có cường độ ban đầu cao nhưn g clinker có nhiều CaO sẽ làm tỏa nhiều nhiệt khi đóng rắn, kém bền trong môi trường xâm thực. Đồng thời nó làm độ nhớt pha lỏng tăng gây cản trở quá trình tạo thành C3S. Mặt khác khi làm lạnh nhanh các khoáng aluminat dễ b ị phân hủy và tạo thành CaO td.
Fe2O3 tham gia phản ứng chủ yếu tạo thành alumoferit canxi, làm giả m nhiệt độ tại pha lỏng của phối liệu, độ nhớt pha lỏng nhỏ dễ tạo khoáng trong clinker. Nếu Fe 2O3 quá lớn xi măng có tỉ trọng cao, cường độ thấp, nhưng bề n trong môi trường xâm thực, tỏa ít nhiệt khi đóng rắn. MgO là thành phần có hại trong clinker xi măng. Khi nằ m ở trạng thái tự do nhiều CaO sẽ làm cho xi măng không ổn định thể tích khi đóng rắn vì phản ứng chậm với nước kèm theo nở thể tích rất lớn và phá hủy cấu trúc của xi măng.
Oxit kiềm (R 2O viết tắt của K2O và Na 2O) tham gia phản ứng tạo các dung dịch rắn kiềm của C 3A, C 2S, C3S. Nế u clinker chứa nhiều kiề m thì sẽ làm giả m cường độ của xi măng .2 Thành phần khoáng Clinker không phải là sản phẩm đồng nhất, mà là tập hợp của nhiều khoáng khác nhau, bao gồm các khoáng chính sau: alite, belite, celite, aluminat, hợp chất trung gian, ngoài ra còn một hàm lượng nhỏ các khoáng khác. Các thành phần khoáng chính của clinker. Tên khoáng tinh khiết Công thức phân tử Viết tắt Tên khoáng trong clinker Tricalcium silicat 3CaO.SiO2 C3 S Alite Dicalcium silicat 2CaO.SiO2 C2 S Belite Tricalcium aluminat 3CaO.Al2 O3 C3 A Aluminat Alumoferitcalci 3CaO.pAl2O3 (1-p)Fe2O3 C4 AF Alumoferit 6 Hình 1.1: Hình ảnh chụp vi cấu trúc các khoáng trong clinker.
* Alite [7] Alite là hỗn hợp nhiều khoáng, mà khoáng chủ yếu là 3CaO.SiO2 (C3S), ngoài ra trong alite còn chứa khoảng 4% 3CaO. Al 2O3 (C3A) và một lượng nhỏ MgO; chúng tạo thành dung dịch rắn. Cấu trúc mạng lưới tinh thể của alite có thể thay đổi khi Al 2O3 được thay thế bằng Fe 2O3 và MgO bằng FeO. Alite là khoáng quan trọng nhất trong clinker, thường chiếm từ 45 ÷ 60%.
PC chứa hàm lượng alite cao, thì đóng rắn nhanh và cho cường độ cao, đồng thời khi đóng rắn tỏa nhiệt lớn và ít co thể tích. Dưới kính hiển vi C3S tinh khiết có dạng tinh thể hình lục giác đều (hình 1.4 A) và cấu trúc dung dịch rắn của alite được thể hiện ở hình1.2: Khoáng Alite [17] 7 * Belite [7] Thành phần hoá học của khoáng này chủ yếu là silicat dicanxit: 2CaO. Hàm lượng belite trong clinker chiếm từ 20÷30%. Belite tồn tại dưới 5 dạng thù hình: α – C2S, α’L – C2S, α ‘ H – C2 S, β – C2S, γ – C 2S.
Các dạng thù hình khác nhau ở cấu trúc mạng tinh thể do đó khác nhau về tính chất. Belite chủ yếu là β – C2 S là khoáng quan trọng thứ hai trong clinker. Belite đóng rắn tương đối chậm, cho cường độ ban đầu không cao nhưng về sau phát triển cường độ tốt. Sản phẩm đóng rắn của β – C2S bền vững trong môi trường nước và nước khoáng.
Khoáng belite có hình dạng tròn và cấu trúc dung dịch rắn của belite được thể hiện ở hình 1.3: Khoáng Belite [17] * Celite: 2CaO.(1-p)Fe2O3 (alumoferitcalci) [7] Celite có thành phần gần giống C 4AF (4CaO. Thực tế nó là dung dịch rắn của hỗn hơp tinh thể của các khoáng alumoferitcalci C 6A2 F–C4AF–C 6AF 2 và có dạng công thực chung C2AxF 1-x (trong đó x < 0,7). Ngoài ra trong dung dịch rắn của nó còn chứa một phần C 3A và những thành phần khoáng khác như C2F, MgO. Trong clinker, celite tồn tại dưới dạng C 4AF và chiếm từ 10 ÷ 18%.
Celite là khoáng đóng rắn cho cường độ tương đối thấp, nhưng sản phẩm đóng rắn bền trong môi trường nước và môi trường ăn mòn sulfat. Celite là khoáng nặng nhất γ = 3,77 g/cm 3. 8 * Khoáng aluminat - tricalci 3CaO.Al2O3 (C3A) [7] Trong clinker, aluminat - tricalci tồn tại chủ yếu dưới dạng C3 A (3CaO. Al2O3 ), ngoài ra dưới những điều kiện nhất định (nghèo CaO) nó cũng có thể dưới dạng C 12A7 (12CaO.
Trong dung dịch rắn của C3A cũng có thể chứa 2,5% MgO. Aluminat - tricalci chiếm 7 – 15% trong clinker, là khoáng có tính chất kết dính, dạng tinh thể lập phương, đóng rắn nhanh, tỏa nhiều nhiệt và là khoáng không bền trong môi trường nước khoáng (biển).4: Khoáng C3A và C4 AF [18] Hình 1.4 mô tả mẫu clinker được mài nhẵn và chụp bằng kính hiển vi quan sát thấy được các pha xen kẽ, tỷ lệ cao nhôm sẽ sản xuất ra khoáng C3 A (được đánh bóng sang màu xám) nhiều hơn C 4AF, khoáng C4 AF phản quang tốt hơn nên nhìn thấy màu trắng. * Chất trung gian (chất đệm)[7] Chất trung gian nằm xen kẽ giữa các tinh thể alite và belite, thành phần chủ yếu là các khoáng aluminatcalci, alumoferitcalci và pha thủy tinh. Các khoáng này khi nung ở nhiệt độ cao tạo thành pha lỏng của clinker.
Pha lỏng chiếm 15 ÷ 25%, thành phần pha lỏng phụ thuộc tốc độ làm lạnh, độ nhớt pha lỏng và tỷ lệ các cấu tử. Trong pha lỏng có sự hòa tan kiềm, Al2O3, Fe2 O3 và MgO. * Các khoáng chứa kiềm [7] Trong clinker các khoáng chứa kiềm tồn tại dưới dạng KC23 S12 (K2 O.12SiO2) và NaC8 A3 (Na2 O. Khoáng KC 23S 12 chính là sản phẩm thay thế của C2S; 9 trong đó cứ 12 phân tử C 2S thì 1 phân tử CaO thay thế bằng 1 phân tử K2O.
Còn khoáng NaC8A3, trong đó cứ 3 phân tử C 3A, thì 1 phân tử CaO thay thế bằng 1 phân tử Na2O. Trong clinker, các khoáng chứa kiềm chứa một hàm lượng rất nhỏ, tuy nhiên là những khoáng không có lợi vì làm cho quá trình đóng rắn của PC không ổn định, có thể gây nên trương nở thể tích của sản phẩm. * Các oxit tự do (CaOtự do, MgO tự do) [7] CaOtự do trong clinker thường tồn tại một lượng nhỏ hơn 1%. CaO tự do được tạo thành hoặc là do trong quá trình nung nó không liên kết hoàn toàn với các oxit khác, hoặc là do trong quá trình làm lạnh có sự phân hủy một phần của khoáng alite hoặc khoáng C3 A (kích thước tinh thể là 1÷5 µm).
Nếu hàm lượng CaOtự do cao, trong quá trình đóng rắn do khả năng hydrat hóa chậm (khi hydrat hóa tạo thành Ca(OH) 2 – tăng thể tích lớn) không đồng thời với các khoáng khác, gây giản nở thể tích, dẫn đến phá hủy cấu trúc đá PC.