MỞ ĐẦU 1. Tổng quan và tính cấp thiết của đề tài: a. Tổng quan tình hình nghiên cứu Các chi tiết trong các loại khuôn ép nhựa hoặc khuôn dập có độ mòn không đều trong quá trình hoạt động, nên việc hàn đắp, phục hồi các chi tiết bị mài mòn có ý nghĩa lớn trong việc kéo dài tuổi thọ khuôn và giảm chi phí sản xuất. Ngoài ra, trong quá trình gia công, chế tạo khuôn, có thể có những hao hụt kích thước nhất định đối với các chi tiết gia công nên việc áp dụng công nghệ hàn đắp các chi tiết là cần thiết để nhằm giảm chi phí chế tạo khuôn.
Khi làm việc các khuôn dập, ép ngoài chịu áp lực rất lớn ra còn chịu ứng suất uốn, lực ma sát và lực va đập. Trong quá trình làm việc khuôn dập bị mài mòn do phải chịu ma sát lớn khi dập, ép…nên để tránh cho khuôn bị mài mòn phụ thuộc rất lớn vào độ cứng bề mặt và tổ chức tế vi của vật liệu. Ngoài ra khuôn còn làm việc trong môi trường hóa chất, chất bôi trơn, không khí ẩm… làm cho khuôn bị ăn mòn hóa học ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm cũng như tuổi thọ của khuôn. Khi khuôn dập bị sai hỏng mòn, gãy, nứt mẻ, bong tróc bề mặt, biến dạng dẻo, lún lòng khuôn trong quá trình làm việc, ta cần tiến hành công tác bảo trì, sửa chữa phục hồi.
Một trong các phương pháp sửa chữa thông dụng là hàn phục hồi bằng phương pháp hàn TIG kết hợp với gia công sau khi hàn để đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của khuôn. Tính cấp thiết của đề tài Đề tài này nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy và đổi mới phương pháp dạy – học môn Công nghệ Kim loại, phần Công nghệ Hàn. Ngoài ra, đề tài hướng tới bước đầu lập quy trình công nghệ cho phương pháp hàn đắp phục hồi các chi tiết trong khuôn ép nhựa và khuôn dập, có thể tiến tới chuyển giao công nghệ cho các công ty bên ngoài. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn: 1.
Ý nghĩa khoa học: Ngày nay công nghệ hàn được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất và dân dụng, sử dụng phương pháp hàn TIG để nâng cao chất lượng mối hàn, thích hợp cho hàn thép hợp kim cao, kim loại màu và hợp kim của chúng… Mã đề tài: T2014-105 1 Luan van NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 2014 GVTH: ThS.Võ Xuân Tiến Hình 1.1: Dụng cụ hàn TIG Đề tài được tiến hành bằng phương pháp thực nghiệm hàn sửa chữa bằng phương pháp hàn TIG trên các vật liệu được sử dụng làm khuôn dập, khuôn ép phổ biến trên thị trường, thông qua các kết quả thu được về tính hàn và thông số chế độ hàn thu được, tiến hành so sánh với lý thuyết, rút ra kết quả và cung cấp tư liệu cho công tác bào trì sửa chữa sai hỏng trên khuôn trong quá trình làm việc. Ý nghĩa thực tiễn: Việc sửa chữa khuôn dập, ép bằng công nghệ hàn TIG mang lại hiệu quả kinh tế cao, chất lượng mối hàn tốt, hạn chế việc thay mới khuôn khi khuôn bị sai hỏng trong quá trình làm việc, vẫn đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, chế độ làm việc của khuôn. Mục tiêu nghiên cứu: Đưa ra chế độ hàn thực nghiệm, tính hàn và so sánh với chế độ hàn lý thuyết, lựa chọn que bù (que hàn đắp) thích hợp cho các mác thép làm khuôn dập, ép. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: 1.
Đối tƣợng nghiên cứu: Các mác thép làm khuôn; khuôn dập nóng, dập nguội, ép nhựa thông dụng trên thị trường. Các sai hỏng phổ biến trong quá trình làm việc của khuôn. Phạm vi nghiên cứu: Do hạn chế trong việc tìm kiếm khuôn cũ có sai hỏng nên đề tài thực hiện thông qua việc mô phỏng các sai hỏng trên các mác thép làm khuôn trong quá trình thực hiện. Có rất nhiều thép làm khuôn dập, ép, nhưng chỉ thực hiện trên một số thép làm khuôn phổ biến trên thị trường.
Phƣơng pháp nghiên cứu: Tiến hành tìm hiểu các mác thép làm khuôn dập nóng, dập nguội, ép nhựa. - Tìm hiểu tính hàn của các mác thép. - Các dạng sai hỏng của khuôn trên từng vị trí xác định trong quá trình làm việc. Mã đề tài: T2014-105 2 Luan van NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 2014 GVTH: ThS.Võ Xuân Tiến - Các thông số hàn cơ bản cho các mác thép.
- Tiến hành hàn thử sửa chữa các sai hỏng đã tìm hiểu. - Đưa ra bảng thống kê thông số, chế độ hàn thực nghiệm, lựa chọn que hàn thích hợp cho từng loại thép; quy trình hàn (hàn trái, hàn phải), nhiệt độ gia nhiệt, cách nhận biết nhiệt độ bằng mắt thường hoặc bằng máy đo nhiệt độ. - Đánh giá kết quả và kết luận. Mã đề tài: T2014-105 3 Luan van NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 2014 GVTH: ThS.Võ Xuân Tiến CHƢƠNG 2: PHƢƠNG PHÁP HÀN TIG 2.
Định nghĩa: Hàn TIG (Tungsten Inert Gas) hay hàn hồ quang điện cực không nóng chảy trong môi trường khí trơ (GTAW-Gas tungsten arc welding) là quá trình hàn nóng chảy trong đó nguồn nhiệt điện cung cấp bởi hồ quang được tạo thành giữa điện cực không nóng chảy và vũng hàn. Vùng hồ quang được bào vệ bằng môi trường khí trơ (Ar, He hoặc Ar+He) để ngăn cản những tác động có hại của oxi và nitơ trong không khí. Điện cực không nóng chảy thường dùng là volfram, nên phương pháp hàn này tiếng anh gọi là hàn TIG (Tungsten Inert Gas). Nhiệt lượng cần thiết của quá trình hàn hồ quang trong môi trường khí bảo vệ với điện cực không nóng chảy (TIG) được sinh ra bởi cột hồ quang được tạo ra và duy trì giữa điện cực không nóng chảy bằng Wonfram và bề mặt vật hàn.
Vùng ảnh hưởng nhiệt, vũng hàn và điện cực bằng Wonfram được bao bọc và bảo vệ bởi cột khí trơ. Khí trơ (như Argon, Heli,.) không tác dụng hóa học với kim loại nóng chảy, không cháy, không mùi, và trong suốt giúp cho thợ hàn có thể quan sát rõ quá trình hàn. Có thể thêm vào một lượng nhỏ khí khác như Hydro để tăng vận tốc hàn. Nguồn điện hàn Khí bảo vệ Hệ thống làm mát Điều khiển từ xa Kẹp mát Mỏ hàn Hình 2.1: Cấu tạo hệ thống thiết bị hàn TIG Mã đề tài: T2014-105 4 Luan van NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 2014 GVTH: ThS.Võ Xuân Tiến Quá trình hàn TIG có thể sinh ra nhiệt độ lên đến 19.
Nguồn nhiệt trong quá trình hàn TIG chỉ dùng để nung chảy kim loại nền nên nếu mối hàn cần bổ sung thêm kim loại thì ta phải sử dụng que hàn phụ với kỹ thuật vào que tương tự như hàn với hỗn hợp khí acetylen và oxy. Đặc điểm phƣơng pháp hàn TIG: a. Ƣu điểm của hàn TIG Hàn được nhiều loại vật liệu hàn: thép không gỉ (inox), các hợp kim nikel, titan, nhôm, magie, đồng, đồng thanh, đồng thau và thậm chí là vàng. TIG cũng có thể dùng để hàn không đồng chất ví dụ như đồng với đồng thau, thép không gỉ (inox) với thép cacbon thấp.
Hồ quang của TIG tập trung nhiệt lượng cao nên vùng ảnh hưởng nhiệt hẹp (nhất là đối với các kim loại dẫn nhiệt tốt như nhôm, đồng). Vùng ảnh hưởng nhiệt là vùng có cơ tính thấp nhất nên việc vùng ảnh hưởng nhiệt càng hẹp càng tốt. Không tạo xỉ nên không tốn thời gian làm sạch vật hàn. Không khói và hơi độc b.
Nhƣợc điểm của TIG: Hệ số điền đầy thấp. Phải sử dụng que hàn phụ để bổ sung kim loại cho mối hàn và kỹ thuật vào que khó nên đòi hỏi tay nghề người thợ Hàn phải cao. Cường độ hồ quang hàn trong hàn TIG rất mạnh làm tăng lượng tia cực tím, và từ đó tạo nên ozone và nitơ dioxide. Do đó, cần có biện pháp bảo vệ da và mắt khỏi tác hại của hồ quang hàn bằng cách mặc đồ bảo hộ phù hợp và sử dụng kính có số phù hợp.
Khi làm việc trong môi trường chật hẹp, khí bảo vệ trong quá trình hàn TIG có thể tăng lên và thay thế oxy. Cần đảm bảo có phương án thông khí phù hợp. Mã đề tài: T2014-105 5 Luan van NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 2014 GVTH: ThS. Phạm vi ứng dụng của phƣơng pháp hàn TIG: - Phương pháp hàn TIG được áp dụng trong nhiều lĩnh vực sản xuất, đặc biệt rất thích hợp trong hàn thép hợp kim cao, kim loại màu và hợp kim của chúng… - Phương pháp hàn này thông thường được thao tác bằng tay.
- Thường được sử dụng trong lĩnh vực hàng không vũ trụ, trong sản xuất xe không gian… - Sử dụng hàn các tấm, ống thành mỏng trong ngành công nghiệp xe đạp. - Thường được sử dụng trong quá trình phục chế sửa chữa các chi tiết hỏng, đặc biệt là các chi tiết làm bằng nhôm và magie. Tính hàn của kim loại và hợp kim: 2. Khái niệm: Tất cả những kim loại và hợp kim của nó mà khi hàn xảy ra quá trình nóng chảy, quá trình khuếch tán và kết tinh để tạo nên mối hàn thì những kim loại và hợp kim đó có khả năng hàn hay có tính hàn thật sự.
Tất cả các kim loại và hợp kim đồng nhất đều có tính hàn. Ví dụ: thép với thép, gang với gnag, đồng với đồng… Những kim loại và hợp kim mà ở trạng thái lỏng không hoà tan với nhau thì những kim loại và hợp kim đó không có tính hàn. Ví dụ: đồng và chì nguyên chất không hàn được với nhau ở trạng thái nóng chảy, vì ở trạng thái lỏng tạo nên lớp ván g không hoà tan. Hoặc sắt – chì, không hàn được với nhau.
Muốn hàn được các kim loại đó với nhau, phải dùng hợp kim thứ 3 ở dạng hợp kim trung gian để hoà tan các kim loại đó với nhau. Ví dụ: Hàn titan với thép cacbon phải dùng vanađi… Như vậy, tính hàn là khả năng của kim loại hay hợp kim cho phép hình thành mối hàn bằng các công nghệ thông thường, thích hợp để các mối hàn đạt được các tính chất cần thiết, đảm bảo độ tin cậy của liên kết hàn khi làm việc. Phân loại: Theo truyền thống tính hàn của vật liệu qui ước chia thành 4 nhóm: Vật liệu có tính hàn tốt Bao gồm các loại vật liệu cho phép hàn được bằng nhiều phương pháp hàn khác nhau, chế độ hàn có thể điều chỉnh được trong một phạm vi rộng, không cần dùng các biện pháp công nghệ phức tạp (như nung nóng sơ bộ, nung nóng kèm theo, nhiệt luyện sau khi hàn,…) mà vẫn đảm bảo nhận được liên kết hàn có chất Mã đề tài: T2014-105 6 Luan van NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 2014 GVTH: ThS.Võ Xuân Tiến lượng mong muốn. Thép cacbon thấp và phần lớn thép hơp kim thấp đều thuộc nhóm này.